TÌNH YÊU CỦA TÔI
VÀ DÒNG NHẠC CỦA TRÚC PHƯƠNG
Hồi
đó, rất lâu – vào khoảng thập niên 50. Lúc đó, nhạc sĩ Trúc Phương chưa nổi tiếng.
Anh Phương ôm đàn thùng cùng anh Văn Xe đàn cho Ban Văn nghệ Thông tin tỉnh
Trà Vinh, với giọng ca chính là Văn Xe và cô Ngọc Ánh. Anh vốn là người sinh
trưởng ở quận Cầu Ngang.
Sau khi đậu tiểu học, tôi ghi danh lớp Đệ Thất Trường Trung học Long Đức. Sở dĩ
tôi
chọn trường này vì trường có chương trình dạy thay vì bốn năm thi Trung học thì
có
khi hai năm hoặc ba năm, có vài anh chị đi thi và đã đậu Trung học. Chủ trường
lúc đó
là chú thím Hai Nhơn. Ngoài chú thím ra, trường còn quy tụ các thầy cô rất giỏi
như
thầy Đức, thầy Phổ, thầy Ninh, thầy Tố...
Vì trường dính líu đến chính trị nên bị đóng cửa sau mùa hè năm 1957. Tôi cùng
một
số bạn khác đầu quân vào Trường Nguyễn Quán Anh, vì lẽ đa số các thầy bên Long
Đức đều qua đây, trừ một số thầy bị bắt như thầy Ninh và thầy Tố.
Chú thím Hai chạy thoát ra ngoài khu cùng các con của chú thím. Bé Hai, đứa con
lớn
của chú thím, nghe đâu bị chết ngoài ấy. Sau năm 1975, người ta thấy chú Hai
Nhơn
về Sài Gòn. Chú Hai Nhơn bị mờ cả hai đôi mắt vì bị ảnh hưởng của bom lân tinh,
còn
thím Hai chính là bà Bùi Thị Mè.
Niên học 1960–1961, Trường Trung học Bán công Trần Trung Tiên có mở cuộc thi
tuyển học sinh vào lớp Đệ Tam. Tôi nộp đơn thi và đã đậu vào lớp này.
Vào thời gian đó, tôi mê cổ nhạc hơn là tân nhạc. Tôi đi xem văn nghệ chỉ chú ý
đến
mấy cô đào, anh kép cải lương. Nhưng khi vào học Trường Trần Trung Tiên, tôi đã
thay đổi, tôi lại mê âm nhạc.Ở đây, tôi đã yêu và được yêu. Tôi yêu D, một cô
bé lớp Đệ Ngũ. Chúng tôi có những buổi tập dượt văn nghệ chung với nhau. Chúng
tôi có cùng sở thích đánh vũ cầu. Ngày tháng có dịp gặp nhau, nhưng tôi chưa có
dịp tỏ tình.
Một hôm, nàng sang nhà tôi xin mồi lửa. Lúc ấy, tôi đang thổi nấu dùm thím tôi
nồi
cơm chiều vì thím bận việc. Nhìn D lui cui thổi lửa để mồi nhúm cây khô, tôi
đăm đăm
nhìn gương mặt nàng với đôi má hồng hào qua ánh lửa. Tôi chợt thấy tim mình đập
mạnh.
Tôi muốn nói: “D ơi! Em đẹp lắm…” nhưng lại ngập ngừng và bỗng thốt lên câu thầm
kín mà tôi muốn nói từ lâu:
“D ơi! Tôi yêu em…”
Nàng lộ vẻ lính quýnh vì câu nói bất ngờ đó. Nàng nhìn vội về phía tôi và nói:
“Anh
này…” rồi bỏ chạy về nhà. Còn tôi thì đờ đẫn đứng lo âu, không biết D có đáp lại
tình
mình không.
Mặc dù không nói ra điều đáp lại tình yêu với tôi, nhưng qua bản nhạc “Đò Chiều”
của
Trúc Phương, đó là cái duyên thầm kín mà cô bé đã thổ lộ tình cảm của nàng đối
với
tôi, thay vì trả lời câu hỏi.
Phòng học của tôi nhìn qua căn bếp nhà em. Mỗi ngày em ra bếp nấu cơm. Tôi ngồi
bên này nhìn em qua khung cửa sổ. D hát bản “Đò Chiều”, đến đoạn:
“Trông anh trai phong sương em thấy mà
thương”
thì
nhìn sang tôi với nụ cười tình tứ. Ôi! Rung cảm làm sao ấy... Rồi chúng tôi yêu
nhau. Chúng tôi có những buổi giao ước hẹn hò, chuyện trò thân mật trong một
góc vắng ở gần nhà. Tình yêu chỉ trọn qua một năm, vì sự non nớt, dỗi hờn của
tuổi trẻ đã làm tình yêu chúng tôi bị vỡ tan. Tôi đau buồn khôn tả. Buổi văn
nghệ năm đó, tôi hát bản “Chuyện chúng mình” của Trúc Phương. Tôi muốn hát cho
riêng D, người yêu đầu đời của tôi: “Đêm nay em ngồi, lặng yên nghe tôi kể chuyện
xưa bao năm lắng trong tim, tình mình từ thuở tuổi đôi mươi, mà ta chưa biết
nên để lỡ duyên đầu.” Đã lỡ duyên đầu làm tôi buồn ngơ ngẩn và quyết định rời
Trà Vinh lên Sài Gòn học để cố quên mối tình chớm nở đã vội tan. Cũng từ đó,
tôi thường hát nhạc của Trúc Phương qua mấy bản như “Mưa Nửa Đêm”, “Bóng Nhỏ Đường
Chiều”, “Buồn Trong Kỷ Niệm”, “Hai Lối Mộng”... nhất là bản “Con Đường Mang Tên
Em”. Mỗi lần hát bản này là tôi nhớ lại con đường hàng me ở Trà Vinh, mỗi ngày
hai đứa cùng đi đến trường. Ánh mắt, nụ cười trao nhau suốt con đường, với cơn
gió làm lá me quấn quýt tà áo trắng, rơi dính trên mái tóc ngắn đuôi gà của em.
Đi học ở Sài Gòn, nhiều đêm lang thang ngoài phố một mình, tôi lại hát nhạc của
Trúc Phương: “Ai cho tôi tình yêu để làm duyên nụ cười. Tôi xin dâng tình tôi
trọn đời.” Hoặc: “Nửa đêm ngoài phố vắng có người mãi đi tìm, một người không hẹn
đến mà tiếng bước buồn thêm. Tiếc thay hoài công thôi, phố đã vắng thưa người.
Biết rằng chẳng duyên thừa, để người không gặp nữa, về nối giấc mơ xưa.” Và giấc
mơ xưa đã trở lại khi tôi gặp lại D trong một buổi tối Sài Gòn mưa bay lất phất,
trong dịp đi phép cuối tuần. Lúc này, tôi đang thụ huấn khóa Dự bị Sĩ quan Thủ
Đức. Tôi chạy chiếc VeloSolex chầm chậm ngang qua vũ trường Paramount. Thật hết
sức vô tình, tôi đưa mắt nhìn vào bên trong và thấy D vừa bước từ cầu thang lầu
đi xuống.
Tôi
gọi: “D... D... ơi!” D chạy vội ra và ôm chầm lấy vai tôi. Lúc ấy, cách không
xa có một người thanh niên mở cửa xe chờ đón D về. Tôi nhìn về hướng ấy, D hiểu
ý, nói: “Thây kệ...” Rồi ngồi lên sau yên xe tôi, nói: “Anh chở D về dùm.” Trên
đường về, D cho tôi biết nàng phục vụ trong Biệt đoàn Tâm lý chiến ở Sài Gòn,
nhưng bị thuyên chuyển ra miền Trung. Nàng không muốn xa gia đình, vả lại ba má
nói ra ngoài ấy nguy hiểm, nên nàng tạm xin làm việc ở đây được vài tháng vừa
qua.
Tôi
đưa D về trong cơn mưa phùn cuối năm, bỗng thấy nhói trong lòng, đau thay vì thấy
hạnh phúc khi gặp lại người yêu sau bao năm xa cách. Khi biết em làm trong vũ
trường, lòng tôi chùn xuống, xót đau. Tôi từ chối vào nhà em, với lý do phải trở
về quân trường sớm. Về nhà, tôi không tài nào ngủ được: “Xin giã biệt bạn lòng ơi, trao trả môi người cười, vì hai lối mộng hai
hướng trông, mình thương nhau chưa trót thì chớ mang nỗi buồn cho dù chưa lần
nói.” Cái giáo lý Khổng Tử đã ăn sâu trong đầu tôi trong mấy năm học trung
học: “Xướng ca vô loại” đã làm hỏng tình yêu của tôi thật sự từ đó. Tội nghiệp
cho em và tội nghiệp cho tôi!... Khói lửa chiến tranh sau Tết Mậu Thân năm 1968
đã đẩy tôi đi suốt hai năm không ngừng nghỉ ngoài mặt trận, với cái chết trong
gang tấc. “Tôi thường đi đó đây, bùn đen
in dấu giày, lửa thù no đôi mắt. Chân nghe lạ từng khu chiến thuật... Áo nhà
binh, binh thương lính... lính thương quê... vì đời mà đi...” Hoặc: “Kẻ ở miền xa, trời quen đất lạ, nhiều đông
lắm hạ, nối tiếp đi qua, thiếu bóng đàn bà.” Cuộc đời binh nghiệp cận kề với
cái chết làm tôi lang bạt tình đời. Tôi xem tình yêu như những cuộc chơi rong:
gặp đó – ân ái đó – rồi thôi – rồi quên... Không có một cuộc tình nào là trọn vẹn.
“Mượn
em cánh én đeo hồn
Trong
anh thật sự đã mòn dấu xuân.”
HTH
Những ngày nghỉ phép là những ngày rượu uống bạt
mạng và thường khi: “Đưa ta đi về nguyên thủy loài người, mùa yêu khi muốn ngỏ,
vụng về ngôn ngữ tình nên làm bằng dấu đôi tay.” Sau hơn hai năm ngoài chiến
trường, tôi có dịp trở về Sài Gòn, ghé Thị Nghè, trong ngõ hẻm đường Huỳnh Thúc
Kháng, nơi căn nhà gia đình D ở. Tôi gõ cửa. Đứa em gái D mừng rỡ mời tôi vào
nhà và nói: “Anh đi đâu mất biệt?” Rồi em ngập ngừng: “Chị D lấy chồng cách đây
hai tháng.” Tôi nghe nhói trong tim. Và sau đó, không biết tôi đã nói gì với em
của D. Tôi ra về... Từ đó cho tới nay, hơn mấy chục năm dài đã trôi qua mà hình
bóng cũ vẫn còn trong tôi mỗi khi có dịp hát nhạc của Trúc Phương: “Trở lại chuyện hai chúng mình, khi em với
anh vừa biết đam mê, tình yêu tràn trề...”
2.
CUỘC HỘI NGỘ VỚI TRÚC PHƯƠNG Sau thời gian ở trại “Cải tạo” về, tôi và vợ con
tôi sống với gia đình ba má tôi ở Trà Cú. Sau một năm ăn không ngồi rồi, tôi xoắn
tay theo làm phụ xế xe đò cho đứa em trai.
Trong
thời gian này, tôi gặp và quen với vài người bạn văn nghệ cũ. Hôm đó, anh bạn
họa sĩ trẻ đang nói chuyện với tôi ở một góc của bến xe Trà Vinh. Anh chỉ tay về
phía
một người cao cao, mang kính cận, đang đi lại hướng hai chúng tôi.
Anh bạn hỏi tôi:
“Anh có biết Trúc Phương không?”
Tôi hỏi:
“Có phải nhạc sĩ T. P.?”
Vừa lúc đó, Trúc Phương đang đứng trước mặt tôi.
Anh bạn giới thiệu:
“Anh Phương, đây là anh Tâm Hoài.”
Anh bắt tay tôi một cách ỡm ờ, lấy lệ và nói năng rất thận trọng. Tôi hiểu cho
anh, vì
trong thời buổi này khó mà tin được ai…!
Nhưng nhiều ngày sau đó, tình thân giữa anh và tôi tốt hơn nhiều. Có lần anh
theo tôi
về nhà và ở lại đôi ba ngày. Chúng tôi bắt được nhịp thở văn nghệ với nhau.
Tôi nghĩ anh cẩn thận với mọi người vì lúc đó tình hình rất khó khăn. Tôi biết
được
anh nhiều hơn.
Anh tâm sự:
“Toa biết không, moa rời Sài Gòn về sống với má moa ở Cầu Ngang, ăn không ngồi
rồi với nhiều nỗi lo vì không hộ khẩu. Má moa lại già, chỉ sống nhờ mấy đứa
cháu,
moa về ở gây thêm gánh nặng... Mà đi đâu bây giờ? Vợ con đã cách biệt trước năm
75,
bây giờ thì bặt vô âm tín.”
Anh sống nhờ sự đùm bọc của những anh em, bạn bè yêu mến anh. Nhưng vào thời
buổi gạo châu củi quế, đâu có ai đủ sức gánh gồng thêm... nên anh rày đây mai
đó.
Có lần anh nói:
“Toa biết không, moa bây giờ viết nhạc theo đơn đặt hàng để kiếm cơm.”
Tôi nhìn anh ngờ vực. Anh đưa cho tôi xem bản nhạc chép tay, bản nhạc viết cho
Ban
Quản lý Bến xe. Anh nói chưa chắc moa đưa cho họ, và vẻ mặt anh buồn buồn!
Sau này, qua sự giới thiệu của anh họa sĩ trẻ, anh Trưởng Ban Văn hóa – Thông
tin
huyện Trà Cú vì quý mến tài nghệ của anh nên ra tay đùm bọc.
Lúc này, anh sống tạm với anh em trong nhà tập thể. Chính nơi đây, anh sáng tác
khoảng bốn, năm bản gì đó mà tôi không nhớ tên.
Có một bản mà tôi thích nhất, đó là bản “Trà Cú Trong Tình Thương Mật Ngọt”. Bài
này có lẽ anh viết vì cái tình của người Trà Cú đã cho anh. Bài nhạc viết theo
âm
hưởng ngũ cung:
“Nhớ thuở yêu em,
từng bước Lâm Thôn
Giai
điệu ngày đầu,
Dìa lâu đậm màu,
Vì ai anh múa qua cầu.”
…………..
“Mùa chướng trơ... đồng khô nắng cháy,
Gánh lưng lưng gào nước chia hai,
Bưng
ly dừa mát dạ những ai,
Thương em quá buổi đường dài.”
…………..
“Anh lại theo em,
Dìa láng Đôn Xuân...
Hai mùa ngọt – mặn,
Rửa chân sông cạn,
Rồi... ngơ ngẩn... tím... bông bần...”
………
“Nếu phải xa nhau,
Trà Cú yêu ơi!
Trong tình mật ngọt,
Mà khi rời rồi,
Làm sao quên đất... quên người...”
3. LÃNG MẠN, ĐA TÌNH
Trong một dịp, anh theo tôi về Chợ Lách để thăm ba vợ tôi vì ông bị bệnh. Khi về
đến
nơi thì người nhà cho biết đã đưa ông cụ ra bệnh viện Vĩnh Long.
Chúng tôi lại xuống đò trở ra Bệnh viện ở Vĩnh Long. Trên đường đi từ bến đò đến
bệnh viện, tôi và anh đi song bước trò chuyện. Một lúc, tôi thấy anh đi chầm chậm
và
lùi dần về phía sau.
Tôi vì muốn đi mau để vào nhà thương thăm ông cụ nên cứ để mặc anh đi phía sau.
Một hồi lâu, tôi nhìn quay lại, không thấy anh đâu. Nhìn kỹ lại thì thấy anh
hai tay bấu
vào vách tường và nhìn ai đó bên trong.
Tôi gọi:
“Anh ơi! ới!”
Bấy giờ, anh buông tay tuột xuống và đi nhanh về phía tôi.
Tôi hỏi anh:
“Làm gì đó?”
Anh nói:
“Moa nghía hai cô bé trèo cây hái mận bên trong.”
Anh cười xòa và chúng tôi đi về hướng bệnh viện.
Lúc tôi vào phòng thăm ba vợ tôi thì anh tha thẩn ngoài hành lang bệnh viện.
Khi tôi
trở ra ngoài thì chẳng thấy anh đâu.
Tôi ngó dáo dác tìm anh một lúc thì mới thấy anh ngồi trên cành cây sứ với cây
bút và
mảnh giấy.
Tôi gọi anh lại để ra bến xe trở về Trà Vinh.
Tôi hỏi:
“Anh viết gì đó?”
Anh bảo viết nhạc “Tà Áo Trắng Bệnh Viện”.
Tôi nghĩ anh viết chưa xong. Sau này, vì bận rộn với cuộc sống, tôi quên hỏi
anh có
hoàn tất bản nhạc đó chưa.
Ở
anh, khi có bóng dáng người đẹp, với ly cà phê và điếu thuốc, anh sáng tác nhạc
rất nhanh. Mới hay cái lãng mạn của anh đã khơi dậy trong anh, viết ra những nốt
nhạc cho những bài nhạc tình mà theo thiển ý của tôi rất đặc biệt. Trúc Phương
khó mà lầm lẫn với các nhạc sĩ khác.
4.
ĐÔI DÒNG CUỐI Sau năm 1975, một số văn, thơ, nhạc, họa sĩ thoát ra được nước
ngoài nên cuộc sống dễ thở. Đa số còn kẹt lại trong nước. Có nhiều người sống dật
dờ, âu lo, cạn queo ngõ cụt hoặc bị tù tội... Rồi thời gian trôi. Có người tháo
vát hay có căn cơ còn sống tàm tạm. Còn số còn lại? Phải làm gì đây để sống? Họ
chỉ có cây viết! Và họ phải lao lách viết. Rồi họ bị chụp mũ này, mũ nọ! Ai
nuôi sống họ?... Trong lúc người ta sử dụng tác phẩm của họ để làm giàu. Có lúc
nào quý vị nghĩ tới họ chưa? Như nhạc sĩ Trúc Phương, lúc chết đi với cái vốn
còn lại là đôi dép, trong ngõ hẹp nơi thành phố Sài Gòn. {Đoạn thông báo cái chết
của nhạc sĩ Trúc Phương do Việt Dũng nói trong một chương trình ca nhạc của
Trung tâm ASIA}. Xin thắp nén hương lòng, cầu chúc cho linh hồn anh sớm siêu
thoát nơi miền an lạc nào đó. Xin cảm ơn anh đã để lại cho riêng tôi biết bao
nhiêu kỷ niệm qua dòng nhạc của anh. Và trên thế gian này, mọi người yêu nhạc sẽ
vẫn nhớ anh muôn đời qua dòng nhạc tình, gần như gắn liền với đời sống tình cảm
của họ.
Huỳnh
Tâm Hoài Sacramento,
mùa
lạnh 2006
*Ghi
chú: Moa, toa: Tôi, Anh (theo tiếng Pháp).
No comments:
Post a Comment