Quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra. Quê hương là nơi lưu giữ một phần tâm hồn ta.
Friday, August 28, 2026
LỜI MỞ ĐẦU
LỜI MỞ ĐẦU
Huỳnh Tâm Hoài, tên thật là Huỳnh Văn Luận, sinh năm 1943 tại làng Long Hiệp, Trà Vinh. Tuổi thơ của ông bắt đầu trong một miền quê yên bình, nhưng chỉ vài năm sau, quê hương đã bị chiến tranh làm cho xáo trộn. Trong những năm tháng biến động ấy, tại quê ông xảy ra phong trào “cáp duồn”, gây nên cảnh bắt bớ, truy đuổi và giết chóc đối với người Việt. Trước tình cảnh nguy hiểm, gia đình ông phải tản mát, mỗi người chạy một nơi để lánh nạn. Theo lời khuyên của một người thầy giáo cũ từng dạy cha ông, gia đình tìm đường về Cồn Cù, vì nơi đây được cho là vùng đất tương đối an toàn. Nghe lời, cả gia đình gồng gánh đưa nhau về Cồn Cù sinh sống. Nhưng những năm tháng ở nơi đây cũng không hề bình yên. Bom rơi, đạn nổ của chiến tranh vẫn thường xuyên xảy ra. Sau một thời gian, vì lo lắng cho sự an toàn của gia đình, cha mẹ ông quyết định rời Cồn Cù. Sau nhiều lần thay đổi nơi ở, gia đình cuối cùng hồi cư và trở về Trà Cú sinh sống. Chính trên vùng đất giồng Trà Cú, ông đã trải qua những năm tháng tuổi thơ và hình thành trong mình tình yêu sâu nặng đối với quê hương, con người và cảnh vật miền quê Nam Bộ. Lớn lên, ông lên tỉnh học, rồi tiếp tục vào Sài Gòn học tập. Sau đó, theo lệnh động viên của chính quyền đương thời, ông vào Thủ Đức theo học quân sự, ra trường phục vụ trong đơn vị tác chiến. Sau một thời gian, nhận thấy mình có chuyên ngành về y tế, ông làm đơn khiếu nại và được chuyển sang ngành chuyên môn. Từ đó, ông làm việc trong lĩnh vực y tế cho đến biến cố 30 tháng 4 năm 1975. Sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975, ông bị đưa vào trại cải tạo một thời gian, sau cùng ông và vợ cùng ba người con sang Hoa Kỳ theo diện tỵ nạn. Những năm tháng nơi xứ người là một chặng đường mới với nhiều khó khăn, nhất là những năm đầu phải vất vả mưu sinh và xây dựng lại cuộc sống từ đầu. Nhờ sự cố gắng của cả gia đình, các con ông lần lượt trưởng thành và đạt được những thành tựu tốt đẹp. Khi cuộc sống đã dần ổn định, ông có thêm thời gian dành cho niềm đam mê văn chương. Từ những năm còn trẻ, trong những lúc rảnh rỗi giữa cuộc sống mưu sinh, ông vẫn thỉnh thoảng viết thơ, viết văn như một cách ghi lại những cảm xúc, suy nghĩ và những điều mình chứng kiến trong cuộc sống. Ông đã in được ba tác phẩm: tập thơ đầu tay Nỗi Buồn Còn Đó, tiếp đến là tập thơ Giồng Trôi Về Phía Mặt Trời Lặn và tập truyện ngắn Kẻ Đào Huyệt. Ngoài ra, nhiều bài thơ, bài viết khác của ông được đăng trên blog cá nhân. Tuy nhiên, phải đến khi nghỉ hưu, có nhiều thời gian hơn, ông mới có điều kiện trở lại với việc viết một cách đều đặn và dành nhiều tâm huyết cho công việc ghi chép. Những trang viết ấy không chỉ là thơ văn, mà còn là những ký ức, những câu chuyện về quê hương, con người và những điều ông đã từng chứng kiến, từng trải qua trong suốt cuộc đời. Tuy nhiên, phải đến khi nghỉ hưu, có nhiều thời gian hơn, ông mới có điều kiện viết lại một cách đều đặn và dành nhiều tâm huyết cho việc ghi chép những gì mình đã từng chứng kiến, từng trải qua. Trong những năm tháng gần đây, ông tập trung viết về Miệt Giồng Nam Bộ, đặc biệt là vùng đất Trà Vinh – nơi đã nuôi dưỡng tuổi thơ, ký ức và tình cảm quê hương của ông. Những trang viết không chỉ là sự ghi chép về đất đai, sông nước, con người và phong tục tập quán, mà còn là cách ông lưu giữ một phần ký ức của một thế hệ đã đi qua chiến tranh, ly loạn, tha hương và trở về với cội nguồn bằng nỗi nhớ. Đối với Huỳnh Tâm Hoài, viết về Miệt Giồng không đơn thuần là một công việc hay một thú vui lúc tuổi già. Đó là một tâm huyết đã được ấp ủ từ nhiều năm tháng, là mong muốn lưu lại những hình ảnh của quê hương mà ông đã sống. Ở tuổi ngoài tám mươi, ông vẫn miệt mài với những trang viết, với mong muốn hoàn thành công trình này, đối với ông nó không to lớn, nhưng như là một lời tri ân đối với quê hương, đối với những người đã đi qua cuộc đời mình.
Đó
cũng chính là tâm nguyện của Huỳnh Tâm Hoài – Huỳnh Văn Luận, một người đã đi
qua chiến tranh, sống tha hương với những năm tháng mưu sinh, nhưng trong sâu
thẳm tâm hồn vẫn luôn hướng về quê nhà..
TRI
NHÂN (Sascramenro 2026)
MỘT TẤM LÒNG VỚI QUÊ HƯƠNG MIỀN NAM
Có những tình cờ trong đời, thoạt nhìn tưởng chỉ là một cuộc gặp gỡ bình thường, nhưng rồi qua năm tháng mới thấy trong đó dường như có một chút duyên. Sống ở Sacramento, thủ phủ tiểu bang California, tôi có dịp giao lưu văn học nghệ thuật với Huỳnh Tâm Hoài. Gặp nhau, đọc nhau, chuyện trò với nhau một thời gian, tôi mới biết nhà thơ, nhà văn Huỳnh Tâm Hoài tên thật là Huỳnh Văn Luận, sinh năm 1943 tại làng Long Hiệp, Trà Vinh.
Trong những năm qua, tôi đã có dịp đọc tập thơ đầu tay Nỗi Buồn Còn Đó, tiếp đến là Giồng Trôi Về Phía Mặt Trời Lặn và tập truyện ngắn Kẻ Đào Huyệt. Mỗi tác phẩm mang một dáng vẻ riêng, nhưng càng đọc tôi càng nhận ra phía sau chữ nghĩa của Huỳnh Tâm Hoài luôn có một dòng chảy khá bền bỉ: tình quê, tình người và ký ức về miền đất phương Nam đã nuôi dưỡng anh từ thuở thiếu thời.
Nhà văn, nhà thơ Huỳnh Tâm Hoài và tôi có với nhau một cái duyên khá đặc biệt. Đó là cái duyên của những người Việt tha hương, từ những phương trời và hoàn cảnh khác nhau, cuối cùng gặp nhau tại Sacramento và cùng chọn miền đất này làm quê hương thứ hai. Giữa chúng tôi có tình văn nghệ, tình bằng hữu, lại có thêm những mối liên hệ gia đình gần gũi. Nhưng vượt lên trên những mối thân tình ấy, điều khiến tôi quý trọng Huỳnh Tâm Hoài vẫn là chiều sâu suy tư, nhân cách sống và khả năng văn chương mà anh đã âm thầm vun bồi từ thuở thanh niên cho đến những năm tháng xế chiều hôm nay.
Đọc văn, đọc thơ Huỳnh Tâm Hoài, người ta dễ nhận ra anh hiếm khi viết về những gì hoàn toàn xa lạ với đời mình. Chất liệu sáng tác trước hết là chất liệu của cuộc sống: những điều đã thấy, đã nghe, đã trải qua và sau cùng lắng lại trong tâm hồn. Nhưng khi bước vào trang viết, những trải nghiệm ấy không còn là những mảnh đời rời rạc hay những sự kiện khô khan. Chúng được chưng cất qua ký ức, qua tình quê và qua sự chiêm nghiệm của một người đã đi đủ dài trên đường đời để hiểu rằng có những điều càng xa càng nhớ, có những nơi càng rời xa lại càng trở nên gần gũi.
Những năm gần đây, Huỳnh Tâm Hoài dành nhiều tâm sức viết về Miệt Giồng Nam Bộ, đặc biệt là vùng Trà Vinh, nơi đã nuôi dưỡng tuổi thơ, ký ức và tình cảm quê hương của anh. Trong trang viết của Huỳnh Tâm Hoài, quê nhà không chỉ còn là một địa danh trên bản đồ. Đó là một miền ký ức có đất, có người, có sông nước, ruộng vườn, phong tục, tiếng nói, nếp sống và cả những thăng trầm của lịch sử. Mỗi trang viết vì thế như mang theo một chút phù sa của miền sông nước, một chút nắng gió phương Nam và một chút bâng khuâng của người đã đi xa mà lòng vẫn còn neo lại nơi bến cũ.
Những trang viết ấy không chỉ là sự ghi chép về đất đai, con người và phong tục tập quán. Sâu xa hơn, đó là cách một người lưu giữ ký ức của thế hệ mình, một thế hệ đã đi qua chiến tranh, ly loạn, đổi thay và tha hương để rồi khi tuổi đời đã cao lại quay về tìm cội nguồn bằng nỗi nhớ. Bởi vậy, viết đối với Huỳnh Tâm Hoài hôm nay không đơn thuần là một công việc văn chương, càng không phải chỉ là một thú vui lúc tuổi già. Tôi nghĩ đó là một tâm nguyện đã được ấp ủ qua nhiều năm tháng: giữ lại bằng chữ nghĩa những hình ảnh quê hương mà chính anh từng sống, từng thương và từng mang theo trong hành trang tinh thần suốt cuộc đời.
Ở tuổi ngoài tám mươi, anh vẫn miệt mài với những trang bản thảo. Có thể đối với anh, công trình ấy chẳng cần phải mang một tham vọng gì lớn lao. Nhưng chính trong sự bình dị đó, tôi lại thấy một ý nghĩa khác: đây là lời tri ân với đất, với người, với quê hương và với những bóng hình đã đi qua đời mình.
Nhìn lại hành trình cuộc đời và nghiệp văn chương của Huỳnh Tâm Hoài, từ những năm tháng ở quê nhà cho đến những ngày tha hương trên đất Mỹ, tôi vẫn nhận ra nơi anh một sự nhất quán đáng quý. Đó là tâm hồn của một người tài hoa mà không cầu kỳ, yêu thi ca mà không xa rời cuộc sống; một người trước sau vẫn giữ tình quê hương đất nước, thủy chung với gia đình và dành cho bằng hữu một tấm lòng đôn hậu, chân thành.
Ở đời, có những người ta gặp nhau vì hoàn cảnh. Có những người gần nhau vì gia đình. Có những người tìm đến nhau vì văn chương. Với Huỳnh Tâm Hoài, tôi may mắn có đủ cả ba cái duyên ấy. Có lẽ vì vậy mà đọc tác phẩm của anh, đối với tôi, không chỉ là đọc một cuốn sách. Nhiều khi tôi có cảm tưởng như đang ngồi bên một người bạn cũ, nghe anh thong thả kể chuyện quê, chuyện người, chuyện những tháng năm đã đi qua và những gì vẫn còn nguyên vẹn trong lòng.
Văn chương, đến một độ tuổi nào đó, có lẽ không cần phải ồn ào để chứng minh sự hiện diện của mình. Nó chỉ cần đủ chân thật để người đọc tin, đủ sâu để người đọc nghĩ và đủ tình để khi khép sách lại, trong lòng vẫn còn một chút dư âm.
Tôi nghĩ Văn Minh Miệt Giồng có cái giá trị đáng quý ấy.
Tác phẩm giúp người đọc hiểu thêm về một vùng đất và con người đồng bằng Nam Bộ, đặc biệt là miền quê đã nuôi dưỡng tâm hồn tác giả. Với những người cùng thế hệ, những trang sách này có thể đánh thức những kỷ niệm tưởng đã ngủ yên. Với lớp đàn em và con cháu lớn lên xa quê, tác phẩm lại có thể trở thành một nhịp cầu lặng lẽ đưa họ về gần hơn với nguồn cội, để biết rằng trước mình đã có những thế hệ sống ra sao, yêu thương thế nào, nói năng thế nào và đã dựng nên một nếp sống trên vùng đất phương Nam như thế nào.
Người ta thường nói quê hương là nơi mình sinh ra. Nhưng với những người đã sống phần lớn đời mình nơi đất khách, quê hương đôi khi còn là nơi mình không ngừng nhớ tới; nơi chỉ cần một tiếng gọi, một mùi hương, một câu chuyện cũ cũng đủ làm sống dậy cả một miền thương nhớ. Huỳnh Tâm Hoài đã giữ quê hương của mình bằng ký ức, bằng tình người và sau cùng bằng chữ nghĩa.
Trong dòng sách viết về văn hóa Nam Bộ, thế hệ đi trước đã có Văn Minh Miệt Vườn của Sơn Nam, một công trình khảo cứu đặc sắc về lịch sử khai phá, đời sống và văn hóa cư dân phương Nam, nhất là đồng bằng sông Cửu Long. Sơn Nam nhìn thấy từ sông nước, vườn tược và cuộc khẩn hoang không chỉ một phương thức sinh sống mà cả một nếp văn hóa được hình thành qua bao thế hệ, với tính cách phóng khoáng, thực tế, trọng nghĩa tình và khả năng thích nghi mạnh mẽ của con người Nam Bộ.
Và hôm nay, từ một góc nhìn gần gũi hơn với vùng đất đã sinh ra mình, Huỳnh Tâm Hoài gọi tác phẩm của anh là Văn Minh Miệt Giồng.
Từ “miệt vườn” đến “miệt giồng”, khoảng cách trong chữ nghĩa tưởng không xa, nhưng mỗi miền đất lại có một sắc thái riêng. Giồng là đất. Giồng cũng là làng xóm, là dấu chân người mở đất, là những mùa mưa nắng, những cuộc đời đã sinh ra, lớn lên rồi có người ở lại, có người đi xa. Bởi thế, đọc Văn Minh Miệt Giồng, tôi không muốn chỉ tìm trong đó những kiến thức về một địa phương. Tôi muốn tìm hơi đất, tiếng người và cái tình của một người đã xa quê nửa vòng trái đất mà vẫn còn mang nguyên một miền quê trong ký ức.
Sau cùng, có lẽ giá trị đẹp nhất của một cuốn sách viết về quê hương không nằm ở chỗ nó nói được bao nhiêu điều lớn lao, mà ở chỗ nó giữ lại được bao nhiêu điều nhỏ bé đang có nguy cơ mất đi.
Huỳnh Tâm Hoài đã trao lại cho chúng ta qua Văn Minh Miệt Giồng một phần đất, một phần người và một phần hồn của phương Nam mà anh đã mang theo suốt cuộc đời.
Với tình thân của một người bạn, một văn thi hữu và một người đã cùng anh chia sẻ những năm tháng tha hương nơi Sacramento, tôi trân trọng giới thiệu Văn Minh Miệt Giồng của nhà văn, nhà thơ Huỳnh Tâm Hoài đến quý bằng hữu và độc giả gần xa, trong cũng như ngoài nước.
Sacramento, California
Trung Thu 2026
Trần Kiêm Đoàn
LỜI
TÂM TÌNH CỦA TÁC GIẢ
Tập
sách “Tìm hiểu về Miệt Giồng” là niềm ấp ủ đã theo tôi suốt
nhiều năm. Trong quá trình thực hiện, tôi cố gắng sưu tầm, ghi chép và tham khảo
nhiều nguồn tư liệu. Nay, nhờ sự phát triển của khoa học và công nghệ, đặc biệt
là trí tuệ nhân tạo (AI), tôi có thêm phương tiện hỗ trợ trong việc tìm kiếm, hệ
thống hóa và đối chiếu thông tin, giúp tôi tiếp tục hoàn thành tâm nguyện đã ấp
ủ từ lâu.
Tôi
viết những trang sách này như một lời tri ân các thế hệ đi trước đã khai phá, dựng
xây quê hương; tri ân những con người bình dị đã gìn giữ tiếng nói, phong tục,
tập quán và những nét đẹp văn hóa truyền thống của vùng đất này.
Tôi
biết tập sách vẫn chưa thể nói hết về một vùng đất rộng lớn, lâu đời và giàu bản
sắc, cũng khó tránh khỏi những thiếu sót. Những điều được ghi lại phần nhiều bắt
nguồn từ vùng miệt giồng Trà Vinh — nơi tôi sinh ra, lớn lên và mang theo trong
ký ức. Tuy nhiên, trong dòng chảy văn hóa chung của miền Tây Nam Bộ, những nét
sinh hoạt ấy cũng có nhiều điểm tương đồng với các vùng phụ cận nằm dọc theo
hai dòng sông Tiền và sông Hậu.
Tôi
chỉ mong những trang viết này góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu và lưu giữ những
nét đẹp của một vùng quê, để những phong tục, nếp sống, tiếng nói và nghĩa tình
của người xưa không hoàn toàn phai nhạt theo năm tháng; để mai sau, con cháu
còn có thể tìm thấy đâu đó bóng dáng quê hương của ông bà mình.
Tập
sách không nhằm làm một công trình nghiên cứu đầy đủ, mà chỉ là những điều tôi
đã thấy, đã nghe, đã sống và đã ghi nhớ. Ở tuổi xế chiều, tôi gom góp lại những
ký ức ấy như một chút tình gửi về quê cũ, với mong muốn giữ lại những gì còn có
thể giữ được cho những thế hệ mai sau.
Bởi quê hương không chỉ là nơi ta đã sống, mà còn là nơi một phần tâm hồn ta mãi mãi ở lại.
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tập
sách này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, góp ý và động viên của nhiều người thân,
bạn bè cùng những người đã dành tình cảm cho quê hương Miệt Giồng Nam Bộ.
Tôi xin chân
thành cảm ơn những bậc tiền nhân, những người đi trước đã để lại nhiều tư liệu,
câu chuyện và dấu tích quý báu về vùng đất này. Những điều tôi được nghe từ ông
bà, cha mẹ và những người lớn tuổi nơi quê nhà đã trở thành một phần ký ức giúp
tôi có thêm chất liệu để viết nên những trang sách hôm nay.
*Xin cảm ơn những
người thân trong gia đình đã luôn cảm thông, khuyến khích và tạo điều kiện để
tôi có những tháng ngày yên tĩnh ngồi nhớ lại chuyện cũ, tìm kiếm tư liệu và
ghi lại những điều còn lưu giữ trong ký ức.
*Xin cảm ơn bạn
bè và những người đã đọc, góp ý, bổ sung tư liệu để những trang viết của tôi được
đầy đặn hơn.
Ở tuổi ngoài tám
mươi, tôi hiểu rằng trí nhớ của tôi có giới hạn, trong khi những câu chuyện về
một vùng đất lại trải dài qua nhiều thế hệ. Vì vậy, dù đã hết lòng cố gắng, tập
sách chắc chắn vẫn còn những điều thiếu sót. Tôi chân thành mong nhận được sự cảm
thông và những lời góp ý của quý độc giả.
Sacramento,
Huỳnh Tâm Hoài
2026
CHƯƠNG 1
CHƯƠNG 1
DÒNG
MEKONG VÀ SỰ HÌNH THÀNH VÙNG ĐẤT MIỆT GIỒNG
Muốn hiểu về vùng đất Miệt Giồng, trước hết phải trở về với dòng sông Mê Kông –
dòng sông đã tạo nên một trong những vùng đồng bằng trù phú nhất của Đông Nam
Á.
Sông Mê Kông bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng (Trung Quốc), chảy qua nhiều quốc
gia trước khi tiến vào Việt Nam. Từ Campuchia, dòng sông hùng vĩ này đi vào
vùng
đất An Giang rồi chia thành hai nhánh lớn: bên phải là sông Bassac, khi vào Việt
Nam
gọi là sông Hậu; bên trái là dòng chính Mê Kông, được người Việt gọi là sông Tiền.
Hai con sông ấy tiếp tục chia ra thành nhiều nhánh nhỏ, mang theo lượng phù sa
khổng
lồ bồi đắp cho vùng đồng bằng Nam Bộ. Qua hàng ngàn năm, những lớp phù sa ấy
không ngừng vun bồi, mở rộng đất liền lấn ra phía biển, tạo nên một vùng châu
thổ
rộng lớn, màu mỡ và đầy sức sống.
Người dân Nam Bộ thường gọi dòng sông này bằng những cái tên thân thương như
sông Cái, sông Lớn hay sông Cửu Long. Cái tên Cửu Long bắt nguồn từ chín cửa
sông
đổ ra biển Đông, nơi những dòng nước cuối cùng mang phù sa bồi đắp thêm ra cho
thềm lục địa phía nam Việt Nam. Chín
cửa sông ấy gồm: cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên, cửa
Cung Hầu,cửa Định An, cửa Bát Xắc,cửa Trần Đề. Chính nhờ những dòng sông này mà vùng đất Nam Bộ ngày càng được mở rộng ra về phía biển. Những bãi bồi, những cồn cát, những giồng đất dần dần xuất hiện giữa
vùng sông nước mênh mông. Từ những vùng đất còn hoang sơ, con người đã đến khai phá, dựng làng, lập nghiệp, tạo nên một nền văn minh đặc thù của miền châu thổ. Dòng
sông vẫn luân lưu, dòng sông vẫn chảy. Đó là một phần căn nguyên hình thành nên vùng
đất
Miệt Giồng đến ngày nay.
Nhạc sĩ Trúc Phương có thời gian sống ở Vĩnh Long. Ông có viết một ca khúc
“Chín
Dòng Sông Hò Hẹn” ghi sơ nét sinh hoạt của miền đất nầy.
Em về đó biển xanh đất rộng
nên phù sa đổ chín cửa sông
Nơi em qua đất mở lời yêu
lúa nhớ em thật nhiều
từ say ngất giọng hò chiều
Qua bờ bãi mùa điên điển trổ
Bông vàng mơ nhớ quá nồi kho
Quê nuôi khôn mến từng hạt cơm
nếu có khi giận hờn
Tình quê vẫn là tình quê
Dòng sông con nghiêng nghiêng bỗng nhớ
Nắng mai non nắng đỗ tàu dừa
Sáo
diều lung linh gió
giấc ngủ bờ tre trưa
Lời tình tiếng võng đu đưa
Gian khổ mấy đời ta cũng chịu
Môi tìm môi để biết tình yêu
Em xun xoe áo lụa hài thêu
Chín tiếng sông hò hẹn
Lòng quê đáp lại tình quê
TỪ ĐẤT HOANG ĐẾN XÓM LÀNG
Buổi đầu, vùng đất phương Nam còn nhiều lau sậy, rừng cây, sông rạch và những
vùng
ngập nước như đã nói.
Con người đến khai phá từng phần.
Một vài mái nhà xuất hiện trước.
Rồi thêm những gia đình khác đến ở.
Người ta mở lối đi, đào mương, khai ruộng, trồng cây, lập vườn.
Những mái nhà gần nhau thành xóm.
Nhiều xóm nối lại thành làng.
Làng quê vì thế không tự nhiên mà có.
Nó được hình thành từ công sức của nhiều thế hệ đã đến khai phá và gắn bó với
vùng
đất.
TRÀ VINH – VÙNG ĐẤT GIỮA HAI DÒNG SÔNG
Trà Vinh nằm giữa sông Cổ Chiên và sông Hậu, đồng thời hướng ra biển Đông.
Vị trí ấy tạo nên một không gian đặc biệt, nơi nước sông, phù sa, thủy triều và
biển
cùng tác động lên quá trình hình thành đất đai.
Sông Cổ Chiên và Sông Hậu chảy ra biển. Thủy triều đưa nước mặn vào tạo thành
vùng nước lợ nơi các cửa sông, làm cho đất đai và nguồn nước ở Trà Vinh mang
những đặc điểm riêng.
Bởi vậy, hình dáng của Trà Vinh hôm nay là kết quả của một quá trình lâu dài giữa
sông, phù sa, biển, cây cối như đước, bần, tràm giữ đất.
Từ
hai dòng sông lớn nầy dòng sông đã chia nhánh vào châu thổ với nhiều sông, rạch,
mương nước và ao hồ, đầm bàu.
SÔNG RẠCH, MƯƠNG NƯỚC, AO HỒ, ĐẦM BÀU
Miệt giồng Nam Bộ không chỉ có những
dải giồng cao, ruộng đồng và vườn cây mà còn có một hệ thống sông rạch, mương
nước, ao hồ, đầm bàu đan xen khắp nơi. Sông rạch lớn nhỏ vừa dẫn nước, vừa là
đường giao thông của người xưa. Khi đường bộ chưa phát triển, người dân đi lại
chủ yếu bằng xuồng ghe..
Mương nước
Thường được đào quanh vườn, ven
ruộng để dẫn nước, thoát nước và tưới cây. Mương cũng là nơi cá, tôm, cua, ốc
sinh sống. Người dân có thể đặt lờ, đặt lọp, giăng lưới hoặc câu vài con cá làm
thức ăn cho gia đình.
Ao, hồ, đầm, bàu
Là những khoảng nước lớn nhỏ, có nơi
do thiên nhiên tạo thành, có nơi do con người đào đắp.Vào mùa mưa, nước đầy, cá
tôm sinh sôi; đến mùa nước rút lại có cảnh tát ao, bắt cá, mò cua, bắt ốc, tạo
nên những sinh hoạt rất quen thuộc của miền quê.
Sông rạch, mương nước, ao hồ, đầm
bàu không chỉ góp phần tạo nên diện mạo thiên nhiên mà còn nuôi sống con người,
hình thành cách đi lại, lao động và sinh hoạt của cư dân.
LỜI KẾT
Dòng Mekong và những phần khác của hệ thống sông ngòi, không chỉ mang nước.
Nó mang phù sa, tạo đất và mở ra môi trường sống cho con người.
Từ những lớp phù sa, bãi bồi và những con giồng, xóm làng dần hình thành.
Trên nền đất ấy, con người tiếp tục khai phá, dựng nhà và tạo dựng cuộc sống.
Miệt Giồng vì thế là kết quả của cả thiên nhiên và bàn tay con người – một vùng
đất sinh ra từ dòng nước, phù sa và thời gian.
Bản đồ Trà Vinh
TÌNH TỰ LÝ ĐẤT GIỒNG
Con nước phù sa
Chảy ra biển lớn,
Mang hương đất tình dào dạt,
Tấp vô rồi lắng đọng.
Hò ơ…
Trên đất giồng anh trồng khoai lang,
Ruộng sâu anh cấy,
Lúa vàng mênh mông.
Hò ơ…
Đêm ngủ mùng giăng,
Muỗi kêu không ngủ được,
Nằm nghe con nước lớn ròng ngoài sông.
Mái chèo em khua nước,
Tóc em dài gió bay,
Nhịp nhàng đôi tay,
Anh nhìn mà ngất ngây.
Thuyền đi qua, sóng vỗ bờ,
Anh ra đứng ngó theo con nước,
Mà lòng anh lắc lay,
Mà tình anh ngất ngây.
Thương em như con sông dài
Chảy ra cửa biển lớn.
Gió chướng về,
Nước mặn ngọt giao hòa.
Hẹn em hết gió mưa sa,
Đem trầu cau sang mẹ,
Xin cưới em về,
Bậu với qua thành vợ thành chồng.
Hò lơ…
Đất
giồng dây bí trổ bông,
Cây cà ra nụ,
Khổ qua đã có trái rồi.
Mẹ già ngồi ngoáy cau vôi,
Miệng nhai bõm bẽm,
Đôi môi đỏ hồng.
Từ ngày con gái lấy chồng,
Mẹ thương mẹ hát lý đất giồng nhớ con.
CHƯƠNG 2
CHƯƠNG 2
THIÊN
NHIÊN VÀ CON NGƯỜI MIỆT GIỒNG
Miệt
Giồng được hình thành từ đất và nước, nhưng chính thiên nhiên đã dạy con người
cách sống trên vùng đất ấy. Ở miền quê Nam Bộ, đời sống con người luôn gắn với
sông rạch, ruộng đồng, vườn cây, mùa mưa, mùa nắng và sự thay đổi của con nước.
Thiên nhiên vừa nuôi sống con người, vừa buộc con người phải biết thích nghi với
thiên nhiên.
NƯỚC
– MẠCH SỐNG CỦA MIỆT GIỒNG
Nếu
đất là nơi con người đứng chân thì nước là mạch sống. Sông Cổ Chiên, sông Hậu
cùng hệ thống sông rạch nhỏ mang nước đến ruộng đồng, vườn cây và xóm làng. Nước
phục vụ sinh hoạt. Nước tưới cây. Nước nuôi ruộng. Nước đem cá tôm. Ở vùng gần
biển, con người còn phải sống với sự thay đổi giữa nước ngọt, nước lợ và nước mặn.
Bởi vậy, hiểu con nước là một phần quan trọng trong kinh nghiệm sống của người
dân.
ĐẤT
– NƠI CON NGƯỜI GẮN RỄ
Đất
Miệt Giồng không hoàn toàn giống nhau. Có nơi là giồng cao. Có nơi là đồng thấp.
Có đất cát, đất phù sa, vùng nước ngọt và vùng chịu ảnh hưởng của mặn. Mỗi loại
đất phù hợp với một cách sử dụng khác nhau. Người dân qua nhiều thế hệ dần hiểu
được nơi nào thích hợp trồng lúa, nơi nào trồng cây, nơi nào làm vườn hay nuôi
thủy sản. Sự hiểu biết ấy được hình thành qua quan sát và kinh nghiệm lâu dài.
MÙA
MƯA, MÙA NẮNG
Miền
đất nầy không có bốn mùa rõ rệt mà chia ra hai mùa: mùa mưa và mùa nắng. Cuộc sống
quê nhà cũng đi theo nhịp của mùa. Mùa mưa, mưa đổ xuống, đem nước về cho ruộng
vườn, làm cây cối xanh tốt. Mùa nắng là lúc đất khô hơn, nhiều công việc ngoài
trời thuận tiện hơn nhưng cũng là thời điểm con người phải lo giữ nước và chống
hạn ở những nơi cần thiết. Người quê nhìn trời, nhìn mây, nhìn gió để đoán thời
tiết. Những kinh nghiệm ấy tuy mộc mạc nhưng từng rất quan trọng trong đời sống
nông nghiệp.
CÂY
CỎ VÀ VƯỜN TƯỢC
Thiên
nhiên Miệt Giồng hiện diện ngay quanh mái nhà. Hàng dừa. Bụi chuối.
Cây
cau. Cây xoài. Những loại rau và cây trái trong vườn. Có cây để ăn. Có cây cho
bóng mát. Có thứ dùng làm vật liệu hay thuốc dân gian. Người dân tận dụng những
gì có quanh mình để phục vụ cuộc sống. Chính vì vậy, khu vườn không chỉ là nơi
trồng cây mà còn là một phần của sinh hoạt gia đình.
CÁ
TÔM VÀ NHỮNG SẢN VẬT TỪ NƯỚC
Sông
rạch, ao hồ và ruộng đồng đem lại nhiều nguồn thực phẩm. Cá. Tép. Tôm. Cua. Ốc.
Những sản vật ấy thay đổi theo mùa và theo môi trường nước. Người dân dần biết
lúc nào có loại cá nào, nơi nào có nhiều tôm cua và cách khai thác sao cho phù
hợp. Từ môi trường tự nhiên ấy hình thành nên một phần đời sống ăn uống và sinh
kế của cư dân.
SỐNG
THUẬN VỚI THIÊN NHIÊN
Người
xưa chưa dùng những khái niệm hiện đại về môi trường, nhưng trong đời sống đã
có nhiều cách ứng xử tiết kiệm. Thức ăn không dùng hết thì tìm cách bảo quản. Vật
liệu quanh nhà được tận dụng. Đồ dùng hư thì sửa lại. Cây cối được trồng để lấy
trái, che mát và bảo vệ khoảng đất quanh nhà. Đó là cách sống hình thành từ điều
kiện còn thiếu thốn, nhưng cũng thể hiện sự biết quý trọng những gì thiên nhiên
cung cấp.
THIÊN
NHIÊN ĐI VÀO TÂM HỒN
Thiên
nhiên không chỉ tạo ra sinh kế. Nó còn đi vào tình cảm của con người. Một dòng
sông có thể gợi nhớ quê. Một cơn mưa có thể gợi nhớ mái nhà. Một hàng cau, hàng
dừa hay mùi rơm mới cũng có thể làm sống lại ký ức của một thời đã qua. Khi con
người gắn bó với một vùng đất đủ lâu, thiên nhiên không còn chỉ là cảnh vật. Nó
trở thành một phần của đời sống tinh thần.
LỜI
KẾT
Thiên
nhiên đã tạo điều kiện để Miệt Giồng hình thành và tồn tại.
Nhưng
con người không chỉ sống trên mảnh đất ấy. Họ học cách hiểu đất. Hiểu nước. Hiểu
mùa. Hiểu cây cỏ và những sản vật quanh mình. Qua nhiều thế hệ, sự thích nghi ấy
trở thành kinh nghiệm sống. Đất và nước tạo nên Miệt Giồng; còn cách con người
sống thuận với thiên nhiên đã góp phần tạo nên bản sắc của vùng đất ấy.
DÒNG
SÔNG CỔ CHIÊN – MẠCH NƯỚC CỦA QUÊ HƯƠNG
Trong
ký ức của người Trà Vinh, những dòng sông không chỉ được nhớ bằng tên gọi. Đó
là những dòng sông đã đi cùng đời sống của bao thế hệ. Sông Cổ Chiên là một
dòng sông như thế.
Sông
Cổ Chiên chảy dọc vùng đất Trà Vinh và chia ra nhiều sông rạch chằng chịt khắp
vùng. Từ lâu, dòng sông đã góp phần tạo nên sự sống của cư dân Trà Vinh.
Đối
với người dân, Cổ Chiên không chỉ là một dòng nước. Đó còn là một phần của cuộc
sống.
Chiếc
Áo Bà Ba
Tác giả: Trần Thiện Thanh
Chiếc áo bà ba trên giòng sông thăm thẳm
Thấp thoáng con xuồng bé nhỏ lướt mong manh
Nón lá đội nghiêng tóc dài con nước đổ
Hậu Giang ơi em vẫn đẹp ngàn đời
Nhớ chiếc xuồng xưa năm nào trên bến cũ
Thương lắm câu hò kêu gọi khách sang sông
Áo trắng xuồng đưa mắt cười em khẽ gọi
Người thương ơi em vẫn đợi chờ.
Đẹp quá quê hương hôm nay đẹp vô ngần
Về Sóc Trăng một ngày ca điệu lâm thôn
Đàn én chao nghiêng xôn xao mùa lúa nhiều
Về bến Ninh Kiều thấy nàng đợi người yêu
Em xinh tươi trong chiếc áo bà ba
Em
đi mau kẻo trễ chuyến phà đêm
Qua bến Bắc Cần Thơ
Nhớ kỷ niệm xưa nông xuồng đêm trăng tỏ
Em gái Ninh Kiều tóc dài chấm lưng thon
Đất nước mình đây dẫu xuồng ghe bé bỏng
Mà không thôi nhớ thương nên đầy vơi.
Dẫu qua đây một lần
Nói sao cho vừa lòng
Nói sao cho vừa thương.
BẾN NƯỚC VEN SÔNG
Ngày trước, bến nước là một nơi quen thuộc của làng quê.
Chiếc cầu đơn sơ nối đất trên bờ xuống nước ven bờ.
Người ra lấy nước.
Người giặt giũ.
Người rửa rau.
Người xuống xuồng.
Người đứng chờ ghe.
Trẻ con theo người lớn ra bến.
Xuống sông tắm gội, chơi đùa.
Những người đi chợ gặp nhau rồi đứng lại hỏi thăm đôi câu.
Vì vậy, bến nước không chỉ là nơi con người tiếp xúc với dòng sông. Nó còn là
nơi
giao tiếp của xóm làng.
Bao nhiêu câu chuyện đời thường đã được kể bên những bến sông ấy.
GHE XUỒNG TRÊN DÒNG SÔNG
Khi đường bộ chưa phát triển, ghe xuồng giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Xuồng nhỏ đưa người qua sông, đi từ xóm này sang xóm khác. Ghe lớn chở lúa,
hàng
hóa và nông sản đi xa hơn.
Có những gia đình gắn gần cả cuộc đời với chiếc ghe.
Đối với họ, chiếc ghe không chỉ là phương tiện. Nó còn là một phần của cuộc mưu
sinh có khi là mái nhà của họ.
CON NƯỚC VÀ NHỊP SỐNG
Người sống ven sông rất quen với nước lớn, nước ròng và nhịp thủy triều.
Con nước ảnh hưởng đến việc đi lại, đánh bắt, neo ghe và nhiều sinh hoạt khác.
Sống bên sông vì vậy cũng là học cách thích nghi với một nhịp sống luôn chuyển
động.
Dòng sông không đứng yên.
Nước lên rồi xuống.
Ghe
đến rồi đi. Nhưng chính nhịp ấy đã tạo nên một phần đời sống riêng của những
xóm làng ven sông.
NHỮNG
XÓM LÀNG VEN CỔ CHIÊN
Dọc
theo dòng sông, những xóm làng dần hình thành. Nhà cửa quay về phía bến nước.
Vườn cây trải dài phía sau. Những lối nhỏ nối từ nhà ra sông. Buổi sáng có tiếng
ghe máy, tiếng người gọi nhau và tiếng sinh hoạt của một ngày mới. Buổi chiều,
khói bếp bay lên sau những hàng cây. Khi đêm xuống, dòng sông yên hơn, chỉ còn
tiếng nước vỗ bờ và ánh sáng phản chiếu trên mặt nước. Đó là một khung cảnh đã
in sâu trong ký ức của nhiều thế hệ người Trà Vinh.
DÒNG
SÔNG CỦA SỰ ĐI LẠI VÀ GIAO THƯƠNG, DÒNG SÔNG LƯU LẠI TRONG KÝ ỨC
Sông
không chỉ có giá trị về giao thông hay sinh kế. Nó còn đi vào đời sống tinh thần.
Dòng sông trở thành chứng nhân của những cuộc gặp gỡ và chia xa. Ngôi nhà bên
sông có thể đã đổi khác. Nhưng trong hồn họ, dòng nước ấy vẫn còn chảy như ngày
xưa. SÔNG TRONG ĐỜI SỐNG HÔM NAY
Ngày
nay, đường bộ phát triển, phương tiện đi lại thay đổi, vai trò của ghe xuồng
trong sinh hoạt hằng ngày không còn như trước. Một số bến nước xưa cũng trở nên
vắng hơn. Nhưng sông vẫn là một phần quan trọng của cảnh quan và đời sống Trà
Vinh.
LỜI
KẾT
Sông
đã chảy qua Trà Vinh.
Dòng
sông có khi thay đỗi.
Đường
sá có thể khác.
Nhà
cửa có thể khác.
Cuộc
sống có thể khác.
Nhưng
dòng sông vẫn chảy.
Và
trong dòng nước ấy vẫn còn bóng dáng xưa.
CHƯƠNG 3
CHƯƠNG 3
TÍNH
CÁCH NGƯỜI DÂN NAM BỘ
1-CHÂN
CHẤT, THẬT THÀ
Một
trong những nét dễ nhận ra ở người Miệt Giồng nói riêng và người Nam Bộ nói
chung là sự chân chất, thật thà. Đó là cách sống mộc mạc được hình thành từ đời
sống làng quê, nơi con người gần gũi với ruộng đồng, sông nước và quen dựa vào
nhau trong công việc hằng ngày.
Người
quê thường không chuộng lời lẽ cầu kỳ.
Gặp
nhau ngoài đường, ngoài chợ hay trên bờ ruộng, một câu hỏi thăm, một tiếng gọi
thân tình cũng đủ làm nên sự gần gũi.
Trong
câu chuyện, họ nghĩ sao nói vậy, vui thì cười, buồn thì chia sẻ, ít khi dùng những
lời quá khách sáo.
Sự
thật thà còn thể hiện trong cách đối đãi với nhau.
Một
lời đã nói ra thường được xem trọng.
Mượn
nhau một món đồ, nhờ nhau một công việc hay hẹn nhau một ngày làm ăn, nhiều khi
chẳng cần giấy tờ, bởi giữa những người quen biết lâu đời còn có sự tin cậy
dành cho nhau.
Cái
chân chất cũng hiện diện trong cách tiếp khách. Khách ghé nhà không nhất thiết
phải có mâm cao cỗ đầy. Nhà có gì thì đem ra thứ ấy: bình trà, vài trái cây
trong vườn hay một bữa cơm quê giản dị. Điều quan trọng không nằm ở món ăn mà ở
tấm lòng của chủ nhà.
2.
CẦN CÙ TRONG CUỘC SỐNG
Người
Miệt Giồng từ bao đời gắn cuộc đời mình với ruộng đồng, vườn tược và sông nước.
Cuộc sống ấy tạo nên một đức tính nổi bật: sự cần cù, chịu khó.
Ngày
trước, khi máy móc chưa phổ biến, phần lớn công việc đều dựa vào sức người. Người
nông dân quen thức dậy khi trời còn mờ sương, ra đồng, ra vườn và làm lụng cho
đến khi công việc tạm xong.
Có
ruộng thì trồng lúa,
Có
giồng cao thì trồng hoa màu, có mảnh vườn thì vun trồng cây trái. Những gia
đình ít đất cũng tìm nghề khác để sinh sống.
Người
làm thuê, người buôn bán nhỏ, người làm nghề thủ công; mỗi người một công việc
nhưng đều cố gắng gây dựng cuộc sống bằng sức lao động của mình.
Trong
gia đình, con cái cũng sớm được dạy biết quý công sức.
Những
việc nhỏ vừa sức giúp trẻ hiểu rằng hạt gạo, mái nhà và cuộc sống gia đình đều
được tạo nên từ lao động.
Ngày
nay, máy móc đã thay thế nhiều công việc nặng nhọc, nhưng tinh thần siêng năng
và quý trọng lao động vẫn là một nét đáng quý của người dân quê.
3.
HÀO SẢNG – RỘNG LÒNG VỚI NGƯỜI
Nếu
sự chân chất làm cho người Miệt Giồng dễ gần thì tính hào sảng lại khiến người
ta dễ quý nhau. Hào sảng không nhất thiết là có nhiều tiền của, mà là cách sống
rộng lòng, ít so đo và sẵn sàng chia sẻ những gì mình có.
Ở
miền quê ngày trước, cuộc sống của nhiều gia đình chẳng mấy dư dả. Vậy mà khách
ghé nhà, chủ vẫn vui vẻ mời vào. Có gì mời cái đó. Đến bữa, một lời “ở lại ăn cơm
nhe” thường được nói ra rất tự nhiên.
Cây trong vườn sai trái, người ta có thể đem biếu hàng xóm một ít.
Bắt
được mớ cá ngon cũng có khi chia cho nhà bên cạnh. Những món quà quê không lớn,
nhưng thể hiện một cách sống đẹp: có thì cùng hưởng, không quá tính toán phần
mình.
Cái hào sảng ấy còn nằm trong sự cởi mở.
Gặp
người mới quen, đôi khi chỉ qua vài câu chuyện đã có thể trở nên thân tình.
Đó
là nét phóng khoáng rất riêng của con người
phương Nam.
4. BAO DUNG – BIẾT CHẤP NHẬN VÀ CẢM THÔNG
Một nét đẹp khác trong tính cách người Miệt Giồng là lòng bao dung.
Trong cuộc sống thường ngày, người quê không muốn giữ mãi chuyện hơn thua. Có
khi vì một lời nói mà giận nhau, nhưng rồi gặp lại, người này mở lời trước, người
kia
cũng dễ bỏ qua.
Sống
cùng một xóm, còn gặp nhau lâu dài, giữ mãi chuyện buồn chỉ khiến tình cảm thêm
xa cách.
Bao dung còn là biết cảm thông với hoàn cảnh của người khác.
Ai
cũng có lúc khó khăn, có khi lỡ lời hoặc làm điều chưa phải. Nếu người ấy biết
sửa đổi, người chung quanh thường sẵn lòng cho họ cơ hội.
Trên vùng đất Trà Vinh, người Việt, Khmer và Hoa đã cùng sinh sống qua nhiều thế
hệ.
Mỗi
cộng đồng có phong tục và tín ngưỡng riêng.
Sống
bên nhau lâu ngày, con người học cách tôn trọng những điều khác với mình.
Bao dung vì vậy đôi khi chỉ là biết nhường nhau một lời, bỏ qua một chuyện nhỏ
để
giữ lại điều lớn hơn: tình người.
5.KHÍ TIẾT VÀ NHẨN
NẠI
Người
đàn ông miệt giồng còn được quý trọng ở khí tiết, lòng tự trọng và sự
nhẫn nại. Trong cảnh nghèo khó hay khi gặp nghịch cảnh, họ biết chịu đựng,
không dễ cúi đầu hay buông xuôi. Sự nhẫn nại ấy không phải là yếu đuối, mà là
biết giữ mình, giữ khí tiết, bình tâm chờ lúc thuận lợi để vượt qua khó khăn.
Khi cần, họ dám đứng ra gánh vác, bảo vệ gia đình và giữ lấy nghĩa tình, danh dự
của một đời người.
6. NGHĨA TÌNH TRONG XÓM LÀNG
Ở Miệt Giồng ngày trước, những mái nhà có thể cách nhau một con mương, một bờ
ruộng hay một khoảng vườn, nhưng con người lại sống gần nhau bằng sự quan tâm
và
gắn bó.
Hàng xóm không chỉ là người ở cạnh nhà.
Qua
năm tháng, nhiều gia đình thân thiết đến mức xem nhau như bà con. Ai đau yếu, gặp
khó khăn hay nhà có chuyện, người
chung quanh thường sang thăm hỏi và giúp đỡ trong khả năng của mình.
Khi gia đình có việc lớn, tình nghĩa ấy càng rõ.
Đám
cưới có người phụ bếp, dựng rạp, sắp bàn ghế.
Nhà
có tang, bà con đến chia buồn và giúp những việc cần thiết.
Khi
dựng nhà hay gặp việc nặng, mỗi người góp một tay.
Giỗ quảy kỵ cơm, người tới dự mang theo chai rượu, câp gà, cập vịt…không mới họ
nhớ cũng tự đến, chủ nhà tiếp đón vui vẻ, có khi thấy người quen đi ngang thì
ơi ới gọi
vào, kêu con cái người nhà mang thêm chén, đủa.
Tình
làng nghĩa xóm còn nằm trong những điều rất bình thường: gặp nhau ngoài ngõ thì
hỏi thăm, lâu không thấy một người quen thì hỏi xem có đau yếu gì không.
Người
lớn để mắt đến trẻ nhỏ trong xóm,
Con
cháu biết kính trọng những người cao tuổi.
Những điều giản dị ấy đã làm nên cái tình của làng quê Miệt Giồng.
CÔNG VIỆC ĐỒNG ÁNG – MỒ HÔI LÀM NÊN HẠT GẠO QUÊ NHÀ
Nếu
nói về đời sống Miệt Giồng mà không nói đến công việc đồng áng thì sẽ thiếu đi
một phần quan trọng của câu chuyện quê hương.
TỪ
MẢNH ĐẤT ĐẾN HẠT GẠO
Một
hạt gạo đến được mâm cơm phải trải qua rất nhiều công đoạn.
Làm đất
Ngày
trước, việc làm đất phần lớn dựa vào sức người và sức kéo của trâu bò. Ruộng được
cày, bừa rồi san lại để chuẩn bị cho việc gieo trồng. Những ngày làm đất rất vất
vả. Bùn bám đầy chân, quần áo lấm lem, mồ hôi hòa với nước ruộng. Người nông
dân hiểu rằng đất có được chuẩn bị tốt thì cây lúa mới có thể phát triển.
Con trâu trong đời
sống nhà nông
Ngày
xưa, con trâu là người bạn quen thuộc của người làm ruộng. Trâu kéo cày, kéo bừa
và đảm nhận nhiều công việc nặng. Sáng sớm, người chủ dắt trâu ra đồng; chiều lại
đưa về chuồng. Trẻ con quê từ nhỏ đã quen với hình ảnh con trâu trên bờ ruộng.
Có em theo cha ra đồng, có em nhận việc chăn trâu. Con trâu vì thế không chỉ là
vật nuôi mà từng là một phần của đời sống nông nghiệp.
Gieo hạt và chăm
lúa
Sau
khi đất được chuẩn bị, người nông dân bắt đầu gieo giống. Hạt lúa được gieo xuống
rồi phải chờ đợi và chăm sóc. Người làm ruộng giữ nước, làm cỏ, theo dõi sâu bệnh
và nhìn từng thay đổi của cây lúa. Ngày qua ngày, ruộng lúa chuyển màu xanh.
Lúa lớn dần, trổ bông rồi bắt đầu chắc hạt. Khi cả cánh đồng chuyển sang màu
vàng, mùa gặt đã đến. Nhìn cánh đồng lúa chín, người làm ruộng vừa vui vừa lo.
Vui vì công sức nhiều tháng sắp có kết quả; lo vì một trận mưa lớn, sâu bệnh
hay thời tiết bất thường cũng có thể ảnh hưởng đến cả mùa vụ.
Mùa gặt
Mùa
gặt là một trong những thời điểm bận rộn nhất của làng quê. Người lớn ra đồng từ
sớm. Lúa được cắt, gom và đưa về nơi tập kết. Không khí mùa gặt tuy nhọc nhằn
nhưng cũng có niềm vui riêng. Giữa đồng ruộng thường vang lên tiếng gọi nhau,
tiếng trò chuyện và đôi khi cả tiếng cười. Sau mùa gặt, lúa được phơi, bảo quản
rồi xay thành gạo. Từ đó mới có hạt cơm trên mâm. Người từng làm ruộng hiểu rằng
mỗi hạt cơm đã đi qua biết bao công sức. Bởi vậy, người quê ngày trước rất quý
hạt gạo và ít khi để cơm thừa phí phạm.
KHÔNG
CHỈ CÓ CÂY LÚA CÒN CÓ NHỮNG HOA MÀU PHỤ
Đời
sống nông nghiệp Miệt Giồng không chỉ có ruộng lúa. Sau mùa lúa, một số ruộng
được tận dụng để trồng các loại hoa màu khác, những loại cây thích hợp theo từng
vùng. Người dân trồng rau, bắp, khoai, đậu và nhiều loại khác. Trong vườn nhà
có thể có dừa, chuối, xoài, mít, mận, cau cùng nhiều loại cây ăn trái khác.
Sản
vật làm ra trước hết phục vụ gia đình; phần dư có thể đem ra chợ bán để có thêm
thu nhập. Ruộng và vườn bổ sung cho nhau, cho thấy cách người dân ngày trước biết
tận dụng đất đai và những gì thiên nhiên ban tặng.
KHI
MẤT MÙA
Không
phải năm nào trời đất cũng thuận lợi. Có năm sâu bệnh, có năm hạn hán, mưa lớn
hay nước dâng. Một mùa thất bát có thể làm cho cuộc sống của cả gia đình trở nên
khó khăn. Nhưng sau một mùa không thuận lợi, người nông dân vẫn sửa soạn cho
mùa kế tiếp. Họ giữ giống, chuẩn bị đất và lại bắt đầu. Đó là sức bền của những
con người sống bằng nghề nông: có thể mất một mùa, nhưng không dễ mất niềm tin
vào đất.
LỜI
KẾT
Đời
sống cư dân Miệt Giồng được tạo nên từ nhiều lớp người, nhiều cách sống và nhiều
thế hệ nối tiếp nhau. Qua năm tháng, đời sống ấy cũng hun đúc nên những phẩm chất
đáng quý: chân chất, thật thà, cần cù, hào sảng, bao dung và nghĩa tình. Nhà cửa
có thể đổi thay, đường sá có thể rộng hơn, cách làm ruộng cũng không còn như
trước. Nhưng những gì con người đã tạo dựng và truyền lại qua nhiều thế hệ vẫn
còn đó. Đất tạo nên nơi chốn. Sông nước nuôi dưỡng cuộc sống. Và con người làm
nên linh hồn của Miệt Giồng
CHƯƠNG 4
CHƯƠNG 4
ĐỜI
SỐNG TÂM LINH Ở MIỆT GIỒNG
Miệt
Giồng là vùng đất có người Việt, Khmer và Hoa cùng sinh sống. Mỗi cộng đồng có
tín ngưỡng, nơi thờ tự và cách sinh hoạt tinh thần riêng. Những ngôi chùa, mái
đình, ngôi miếu và hội quán không chỉ là nơi con người gửi gắm niềm tin. Chúng
còn là dấu vết của lịch sử cộng đồng, nơi lưu giữ phong tục, nghệ thuật và ký ức
của nhiều thế hệ.
CHÙA
CỦA NGƯỜI KHMER
Trong
đời sống người Khmer ở Trà Vinh, ngôi chùa giữ một vị trí đặc biệt. Chùa trước
hết là nơi thờ Phật, nơi các vị sư tu học và người dân đến lễ bái. Nhưng ngôi
chùa Khmer còn gắn với đời sống cộng đồng, giáo dục, chữ viết, nghệ thuật và
nhiều phong tục truyền thống. Cũng là nơi vui chơi của trẻ con trong vùng.
NGÔI
CHÙA GIỮA PHUM SÓC
Nhiều
ngôi chùa Khmer nằm gần nơi người dân cư trú, trở thành một phần quen thuộc của
phum sóc. Từ xa, mái chùa với những đường nét đặc trưng đã tạo nên một hình ảnh
dễ nhận biết của vùng quê Trà Vinh. Chùa không đứng tách biệt khỏi cuộc sống mà
gắn bó mật thiết với đời sống người dân. Nơi tu học Các vị sư Khmer tu học theo
truyền thống Phật giáo Nam tông. Đời sống trong chùa đề cao việc giữ giới, học
giáo lý, rèn luyện kỷ luật và tâm tính. Đối với nhiều gia đình Khmer, việc nam
thanh niên có một thời gian vào chùa tu học từng được xem là một giai đoạn có ý
nghĩa trong quá trình trưởng thành. Thời gian ấy giúp người trẻ làm quen với nếp
sống kỷ luật, học giáo lý và hiểu thêm truyền thống của cộng đồng mình. Nơi dạy
chữ cho trẻ Chùa Khmer từng có vai
trò quan trọng trong việc gìn giữ chữ viết và việc học của cộng đồng. Trẻ em có
thể đến chùa học đọc, học viết chữ Khmer và tiếp xúc với những lời dạy về đạo đức.
Nhờ vậy, ngôi chùa không chỉ giữ đời sống tôn giáo mà còn góp phần duy trì tiếng
nói, chữ viết và văn hóa Khmer qua nhiều thế hệ.
Miếu
thờ và nhà nghỉ chân trong phum sóc Khmer
Trong
những phum sóc của người Khmer Nam Bộ ngày xưa, bên cạnh ngôi chùa còn có những
công trình nhỏ bé gắn với tín ngưỡng và đời sống cộng đồng.
Miếu thờ
thường
được dựng khá đơn sơ, có khi chỉ là một mái che bằng lá, vài cây cột gỗ, phía
dưới đặt những viên đá hoặc vật tượng trưng để thờ cúng. Trong dân gian Khmer, Ông
Tà (Neak Ta) được xem là vị thần bảo hộ đất đai, phum sóc và cuộc sống
của cư dân.
Miếu
Ông Tà vì vậy thường nằm ở một nơi yên tĩnh, dưới bóng cây, gần đường đi hoặc
ven khu dân cư. Người dân đến thắp nhang, cầu mong xóm làng bình an, mùa màng
thuận lợi.
Nhà nghỉ chân
cũng
rất mộc mạc, thường dựng bên đường với cột cây, mái lá và một sạp tre hoặc ván
gỗ để người qua đường ngồi nghỉ. Có nơi để sẵn lu nước, gáo dừa
cho khách uống. Nhà không cần vách kín, bốn phía thoáng mát, ai đi đường mệt đều
có thể ghé vào nghỉ một lúc rồi tiếp tục cuộc hành trình.
Nhà nghỉ chân của người Khmer Ngôi miếu thờ của người Khmer
Sư khmer đi khất thực trên đường quê
Sư sãi và cộng đồng.
Người
Khmer dành sự kính trọng đối với các vị sư. Trong những dịp thích hợp, người
dân cúng dường, làm công quả và góp sức chăm lo cho ngôi chùa. Những vị sư lớn
tuổi, có uy tín và am hiểu giáo lý thường được cộng đồng kính trọng, không chỉ
trong sinh hoạt tôn giáo mà còn trong những vấn đề liên quan đến đạo đức và
phong tục. Người dân thường gọi vị đứng đầu hay vị có vai trò cao trong chùa bằng
cách gọi quen thuộc như
Lục Cả.
Lục Cả là người có uy
tín nhất trong phum, sóc. Có việc gì hệ trọng Lục Cả đứng ra giải quyết. Tiếng
nói của lục cả được mọi người tôn trọng.
Chùa trong những ngày lễ
Vào
những dịp lễ truyền thống, người dân đến chùa đông hơn, như lễ dâng bông cúng
phật. Không khí tưng bừng hơn. Chính những ngày ấy làm cho ngôi chùa trở thành
nơi kết nối đời sống tâm linh với đời sống cộng đồng.
Đình làng của
người Việt
*Đình
Đình làng là một công trình tín ngưỡng quen thuộc của người Việt ở Nam Bộ. Khi
những lớp cư dân đến khai phá vùng đất mới, lập xóm, dựng làng, đình dần trở
thành nơi thờ Thành Hoàng và những bậc tiền hiền, hậu hiền có công khai khẩn đất
đai, gây dựng và bảo vệ xóm làng. Đình không chỉ là nơi thờ tự mà còn là nơi
sinh hoạt chung của cộng đồng. Vào những ngày lễ lớn, đặc biệt là lễ Kỳ Yên,
dân làng cùng nhau đến đình dâng hương, cúng tế, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa
màng tốt tươi, xóm làng yên ổn. Đây cũng là dịp bà con gặp gỡ, thăm hỏi và giữ
gìn tình nghĩa xóm giềng. Đình làng Nam Bộ thường mang dáng vẻ trang nghiêm
nhưng gần gũi. Bên trong có bàn thờ, hoành phi, câu đối; phía trước thường có
sân rộng và những cây cổ thụ tạo bóng mát. Tùy điều kiện từng nơi, đình có thể
lớn nhỏ khác nhau nhưng đều chứa đựng dấu ấn của một thời khai hoang lập ấp.
Mái
đình đã trở thành một phần ký ức của làng quê. Đó không chỉ là nơi gửi gắm niềm
tin tâm linh mà còn là nơi nhắc con cháu nhớ đến những người đi trước và nguồn
cội của quê hương.
*Miếu.
Nếu
đình thường gắn với cả một làng thì miếu có thể nhỏ hơn và thờ một vị thần, một
nhân vật được dân gian kính trọng hoặc một đối tượng tín ngưỡng cụ thể. Miếu có
thể nằm bên đường, ven sông, dưới bóng cây lớn hoặc ở một nơi người dân cho là
linh thiêng. Ngưi dân lập Miếu và đến thắp nhang, cầu bình an và bày tỏ lòng
kính trọng đối với thần linh hay người được thờ. Có những ngôi miếu tồn tại lâu
năm và trở thành một phần quen thuộc của cảnh quan làng quê.
Đình
Miếu là dấu ấn của làng.
Đình
và miếu không chỉ là những công trình thờ tự. Qua những nơi ấy, người sau có thể
hiểu thêm cách người xưa nhìn về thần linh, tổ tiên, cộng đồng và quê hương.
Hội quán và ban
hội của người Hoa
Trong
đời sống người Hoa ở Trà Vinh, những nơi thờ tự và sinh hoạt cộng đồng thường gắn
với hội quán, miếu và các ban hội. Đây là nơi những người cùng nguồn gốc, cùng
ban hội hoặc nơi cộng đồng gặp gỡ, tương trợ và giữ gìn những phong tục của
mình. Ban hội thường do những người có uy tín đứng ra tổ chức. Ngoài ban hội
người Hoa còn có những ngôi nhà Họ, những người cùng họ xem là nơi thờ phụng tổ
tiên của dòng họ, từ đây họ biết thứ bậc, vai vế của dòng họ mình. Người Trung
Hoa thường dùng chữ lót để biết thứ, bậc trong dòng họ. Từ những nơi đó cộng đồng
có việc cần chung tay, bà con có thể góp công, góp của và giúp đỡ lẫn nhau. Nhờ
vậy, những người sống xa quê gốc vẫn có một nơi để duy trì tình đồng hương và đời
sống cộng đồng. Qua thời gian, những nơi ấy trở thành một phần của diện mạo của
văn hóa Trà Vinh.
Người
Việt có đình làng và cũng có những ngôi miếu gắn với cộng đồng và tín ngưỡng
dân gian.
Người
Hoa giống như hai cộng đồng Việt, Khmer, người Hoa cũng có miếu và các hình thức
hội đoàn.
Mỗi
cộng đồng có cách thể hiện niềm tin riêng, nhưng tất cả đều cho thấy một điều:
con người không chỉ cần nơi để sinh sống mà còn cần nơi để gửi gắm niềm tin, tưởng
nhớ người đi trước và kết nối với cộng đồng.
Chính
những mái chùa, mái đình, ngôi miếu và hội quán ấy đã góp phần tạo nên chiều
sâu tinh thần của vùng đất Miệt Giồng.
NHỮNG
NGÀY LỄ Ở MIỆT GIỒNG
Những
ngày lễ là một phần quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Miệt Giồng.
Mỗi cộng đồng Việt, Khmer, Hoa có những ngày lễ và phong tục riêng, được gìn giữ
và truyền lại qua nhiều thế hệ. Ngày lễ không chỉ là dịp thực hiện những nghi
thức truyền thống mà còn là lúc con người nhớ đến tổ tiên, trở về với gia đình,
gặp gỡ bà con và nhắc nhau về nguồn cội.
Những ngày lễ đặc
biệt của người Hoa
Đối
với người Hoa ở Miệt Giồng, những ngày lễ, ngày Tết gắn chặt với gia đình, tổ
tiên, tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng.
Tết Nguyên Đán Tết Nguyên Đán
là ngày lễ lớn nhất trong năm. Gia đình sửa sang nhà cửa, trang hoàng bàn thờ,
cúng tổ tiên và sum họp. Trong những ngày đầu năm, mọi người chúc nhau sức khỏe,
bình an và làm ăn thuận lợi. Lì xì, múa lân cùng nhiều phong tục ngày Tết tạo
nên không khí vui tươi của cộng đồng.
Tết Nguyên Tiêu Rằm tháng Giêng
là một ngày lễ quan trọng sau Tết. Người dân đến chùa, miếu thắp hương, cầu
mong bình an và may mắn cho gia đình. Ở một số nơi còn có múa lân, múa rồng và
những sinh hoạt cộng đồng, làm cho không khí đầu năm thêm nhộn nhịp.
Thanh Minh Thanh Minh là dịp con cháu đi tảo mộ, sửa
sang phần mộ và tưởng nhớ ông bà tổ tiên. Đó là cách con cháu bày tỏ lòng biết
ơn đối với những người đi trước và nhắc nhau không quên cội nguồn gia đình.
Tết Đoan Ngọ Tết Đoan Ngọ
cũng được nhiều gia đình người Hoa gìn giữ. Tùy truyền thống của từng nhóm và từng
gia đình, người dân chuẩn bị lễ vật và những món ăn thích hợp cho ngày này.
Tết Trung Thu
Trung Thu là dịp
gia đình đoàn tụ. Trẻ em vui chơi, rước đèn, ăn bánh; người lớn sum họp cùng
gia đình. Hình ảnh trăng tròn cũng gợi ý nghĩa đoàn viên, vì vậy Trung Thu mang
đậm tình cảm gia đình. Những ngày vía Bên cạnh các ngày Tết, người Hoa còn có
những ngày vía gắn với tín ngưỡng của từng cộng đồng. Có những dịp vía Thiên Hậu
Thánh Mẫu, Quan Công, Ông Bổn và những vị thần được cộng đồng tôn kính. Người
dân đến dâng hương, cầu bình an và tham gia những sinh hoạt truyền thống. Một số
dịp có múa lân và những hoạt động cộng đồng. Ảnh hưởng lâu dài của những năm
người Hoa đô hộ đất nước qua nhiều giai đoạn, nên ngày lễ của người Việt bị ảnh
hưởng, gần giống nhau. Tuy nhiên tính cách thì có khác đi một ít.
NHỮNG NGÀY LỄ CỦA
NGƯỜI VIỆT
Tết Nguyên Đán Tết Nguyên Đán là ngày lễ quan
trọng nhất trong năm.
Những
ngày cuối năm, nhà cửa được quét dọn, bàn thờ tổ tiên được sửa sang, bánh trái
và những món ăn ngày Tết được chuẩn bị. Đến giao thừa, gia đình tưởng nhớ tổ
tiên và cầu mong năm mới bình an. Sáng mùng Một, con cháu chúc Tết ông bà, cha
mẹ; họ hàng thăm hỏi lẫn nhau. Con cái được tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và người
thân. Tết vì vậy không chỉ là thời khắc bước sang năm mới mà còn là ngày của
đoàn tụ và tình thân. Tết Nguyên Tiêu
Rằm tháng Giêng là một trong những ngày lễ đầu năm. Người dân đi chùa, lễ Phật,
thắp hương tưởng nhớ tổ tiên và cầu mong gia đình bình an. Sau những ngày Tết,
đây cũng là dịp người thân và bà con gặp gỡ, gửi cho nhau những lời chúc tốt
lành. Thanh Minh Thanh Minh gắn với
tục tảo mộ. Con cháu tìm về phần mộ ông bà, cha mẹ và những người thân đã khuất
để sửa sang, dâng hương và tưởng nhớ. Một nén nhang trước mộ người xưa nhắc con
cháu rằng dù cuộc đời có đi xa đến đâu cũng không được quên nguồn cội. Tết Đoan
Ngọ Mùng Năm tháng Năm âm lịch là một ngày lễ dân gian quen thuộc. Tùy theo
phong tục từng gia đình, người dân chuẩn bị thức ăn, trái cây và lễ vật để cúng
tổ tiên. Qua nhiều thế hệ,
Tết Đoan Ngọ vẫn được lưu giữ
như một nét sinh hoạt dân gian của gia đình Việt.
Rằm
tháng Bảy – Vu Lan Rằm tháng Bảy là dịp hướng lòng về cha mẹ, tổ tiên và những
người đã khuất. Người còn cha mẹ nhắc mình về lòng hiếu thảo. Người đã mất cha
mẹ tưởng nhớ bằng nén hương, mâm cơm và lời cầu nguyện. Đây cũng là dịp nhắc
con người biết quý trọng tình thân khi còn có thể ở bên nhau.
Tết Trung Thu Trung Thu trước
hết là ngày vui của trẻ nhỏ. Trẻ em được ăn bánh, rước đèn và vui chơi dưới ánh
trăng. Người lớn quây quần bên con cháu, nhiều khi nhìn những đứa trẻ mà nhớ lại
Trung Thu của tuổi thơ mình. Vì vậy, Trung Thu không chỉ có niềm vui trẻ nhỏ mà
còn mang theo hơi ấm gia đình.
Lễ Kỳ Yên Lễ Kỳ Yên gắn với
đình làng và đời sống cộng đồng của người Việt. Người dân dâng hương tưởng nhớ
Thành Hoàng và những bậc tiền nhân có công với làng, đồng thời cầu mong mưa thuận
gió hòa, mùa màng tốt tươi và xóm làng bình an. Đây cũng là dịp bà con gặp gỡ
và cùng hướng về cộng đồng làng quê.
Ngày giỗ và những
lễ trong gia đình
Bên
cạnh những ngày lễ chung còn có những dịp riêng của mỗi gia đình như ngày giỗ,
cưới hỏi, mừng thọ, đầy tháng và thôi nôi. Trong đó, ngày giỗ có một vị trí đặc
biệt. Đến ngày mất của ông bà, cha mẹ hay người thân, con cháu làm mâm cơm, thắp
nén nhang tưởng nhớ. Người đi xa nếu có điều kiện cũng trở về sum họp. Người đã
khuất không còn hiện diện, nhưng vẫn còn một chỗ trong ký ức và tình cảm của
gia đình. Ngày giỗ vì thế là một sợi dây nối người đang sống với những thế hệ
đã đi qua.
2. Những ngày đặc biệt của người Khmer
Đời
sống tinh thần của người Khmer Miệt Giồng gắn bó sâu sắc với Phật giáo Nam
tông. Vì vậy, nhiều ngày lễ quan trọng được tổ chức tại chùa và trở thành những
dịp lớn của cộng đồng.
Chôl Chnăm Thmây Chôl Chnăm
Thmây là Tết cổ truyền của người Khmer. Đây là thời khắc tiễn năm cũ, đón năm mới
và cầu mong bình an, mùa màng thuận lợi, gia đình hạnh phúc. Trong những ngày Tết,
người dân sửa sang nhà cửa, mặc quần áo đẹp, đến chùa làm lễ, dâng cơm cho các
vị sư và cùng nhau vui chơi. Không khí ngày Tết vừa trang nghiêm vừa vui tươi,
là dịp gia đình và cộng đồng gặp gỡ nhau.
Sen Đôn Ta Sen Đôn Ta là dịp
tưởng nhớ ông bà, tổ tiên và những người thân đã khuất. Con cháu chuẩn bị thức
ăn, lễ vật và thực hiện những nghi thức theo truyền thống. Ý nghĩa sâu đậm của
ngày lễ nằm ở lòng hiếu kính và sự tưởng nhớ nguồn cội. Dù cuộc sống thay đổi,
con cháu vẫn nhớ rằng phía sau mình là ông bà, cha mẹ và những thế hệ đã tạo dựng
gia đình.
Ok Om Bok – Lễ Cúng Trăng
Ok Om Bok là một lễ hội đặc sắc của người Khmer Nam Bộ. Người dân làm lễ tạ ơn
Mặt Trăng và cầu mong mùa màng tốt đẹp, cuộc sống no đủ. Cốm dẹp là một sản vật
quen thuộc gắn với dịp lễ này. Nhiều nơi còn có những sinh hoạt vui chơi, văn
nghệ và đua ghe Ngo, tạo nên không khí hội hè sôi nổi.
Lễ Kathina – Dâng y Kathina
là một sinh hoạt quan trọng trong đời sống Phật giáo. Phật tử chuẩn bị y phục
và những vật dụng cần thiết để dâng cúng chư tăng. Ngày lễ thể hiện lòng kính
trọng đối với người tu hành, đồng thời cho thấy sự gắn bó giữa người dân với
ngôi chùa và cộng đồng Phật tử. Những ngày lễ Khmer vì vậy không chỉ mang ý
nghĩa tôn giáo. Qua mỗi mùa lễ, người già truyền lại cho người trẻ những phong
tục, nghi thức và ký ức của cộng đồng mình.
Lễ thả đèn.
Trong
một số dịp lễ hội của người Khmer, hình ảnh những chiếc đèn lồng được
thắp sáng rồi thả bay lên trời tạo nên một cảnh tượng rất đẹp. Khi hơi
nóng làm chiếc đèn từ từ bay cao, mọi người thường gửi theo đó những lời cầu
mong bình an, may mắn và những điều tốt đẹp cho gia đình, phum sóc.
Giữa
màn đêm, từng ngọn đèn sáng lung linh nối nhau bay lên cao, làm cho không khí
ngày hội thêm rực rỡ và ấm áp. Đó cũng là một hình ảnh đẹp thể hiện đời sống
tinh thần và niềm vui cộng đồng của người Khmer Nam Bộ.
SỰ GIAO HÒA TRONG NHỮNG NGÀY LỄ
Người
Việt, Khmer và Hoa ở Miệt Giồng có những ngày lễ và phong tục riêng. Về lâu những
ngày lễ đã giao hòa giữa ba sắc dân. Ngày lễ của mỗi cộng đồng không còn hoàn
toàn xa lạ đối với những người sống chung quanh, mỗi dịp lễ, họ đều có quà biếu
cho nhau cùng những lời chúc tụng cho nhau. Bà con có thể thăm hỏi, chúc nhau
bình an, đến xem lễ hội hoặc chung vui với nhau. Sự gần gũi ấy không làm mất đi
bản sắc của từng cộng đồng. Trái lại, mỗi cộng đồng vẫn giữ truyền thống của
mình nhưng biết tôn trọng phong tục của người bên cạnh. Đó là một nét đẹp của đời
sống Miệt Giồng.
.