CHƯƠNG 3
TÍNH
CÁCH NGƯỜI DÂN NAM BỘ
1-CHÂN
CHẤT, THẬT THÀ
Một
trong những nét dễ nhận ra ở người Miệt Giồng nói riêng và người Nam Bộ nói
chung là sự chân chất, thật thà. Đó là cách sống mộc mạc được hình thành từ đời
sống làng quê, nơi con người gần gũi với ruộng đồng, sông nước và quen dựa vào
nhau trong công việc hằng ngày.
Người
quê thường không chuộng lời lẽ cầu kỳ.
Gặp
nhau ngoài đường, ngoài chợ hay trên bờ ruộng, một câu hỏi thăm, một tiếng gọi
thân tình cũng đủ làm nên sự gần gũi.
Trong
câu chuyện, họ nghĩ sao nói vậy, vui thì cười, buồn thì chia sẻ, ít khi dùng những
lời quá khách sáo.
Sự
thật thà còn thể hiện trong cách đối đãi với nhau.
Một
lời đã nói ra thường được xem trọng.
Mượn
nhau một món đồ, nhờ nhau một công việc hay hẹn nhau một ngày làm ăn, nhiều khi
chẳng cần giấy tờ, bởi giữa những người quen biết lâu đời còn có sự tin cậy
dành cho nhau.
Cái
chân chất cũng hiện diện trong cách tiếp khách. Khách ghé nhà không nhất thiết
phải có mâm cao cỗ đầy. Nhà có gì thì đem ra thứ ấy: bình trà, vài trái cây
trong vườn hay một bữa cơm quê giản dị. Điều quan trọng không nằm ở món ăn mà ở
tấm lòng của chủ nhà.
2.
CẦN CÙ TRONG CUỘC SỐNG
Người
Miệt Giồng từ bao đời gắn cuộc đời mình với ruộng đồng, vườn tược và sông nước.
Cuộc sống ấy tạo nên một đức tính nổi bật: sự cần cù, chịu khó.
Ngày
trước, khi máy móc chưa phổ biến, phần lớn công việc đều dựa vào sức người. Người
nông dân quen thức dậy khi trời còn mờ sương, ra đồng, ra vườn và làm lụng cho
đến khi công việc tạm xong.
Có
ruộng thì trồng lúa,
Có
giồng cao thì trồng hoa màu, có mảnh vườn thì vun trồng cây trái. Những gia
đình ít đất cũng tìm nghề khác để sinh sống.
Người
làm thuê, người buôn bán nhỏ, người làm nghề thủ công; mỗi người một công việc
nhưng đều cố gắng gây dựng cuộc sống bằng sức lao động của mình.
Trong
gia đình, con cái cũng sớm được dạy biết quý công sức.
Những
việc nhỏ vừa sức giúp trẻ hiểu rằng hạt gạo, mái nhà và cuộc sống gia đình đều
được tạo nên từ lao động.
Ngày
nay, máy móc đã thay thế nhiều công việc nặng nhọc, nhưng tinh thần siêng năng
và quý trọng lao động vẫn là một nét đáng quý của người dân quê.
3.
HÀO SẢNG – RỘNG LÒNG VỚI NGƯỜI
Nếu
sự chân chất làm cho người Miệt Giồng dễ gần thì tính hào sảng lại khiến người
ta dễ quý nhau. Hào sảng không nhất thiết là có nhiều tiền của, mà là cách sống
rộng lòng, ít so đo và sẵn sàng chia sẻ những gì mình có.
Ở
miền quê ngày trước, cuộc sống của nhiều gia đình chẳng mấy dư dả. Vậy mà khách
ghé nhà, chủ vẫn vui vẻ mời vào. Có gì mời cái đó. Đến bữa, một lời “ở lại ăn cơm
nhe” thường được nói ra rất tự nhiên.
Cây trong vườn sai trái, người ta có thể đem biếu hàng xóm một ít.
Bắt
được mớ cá ngon cũng có khi chia cho nhà bên cạnh. Những món quà quê không lớn,
nhưng thể hiện một cách sống đẹp: có thì cùng hưởng, không quá tính toán phần
mình.
Cái hào sảng ấy còn nằm trong sự cởi mở.
Gặp
người mới quen, đôi khi chỉ qua vài câu chuyện đã có thể trở nên thân tình.
Đó
là nét phóng khoáng rất riêng của con người
phương Nam.
4. BAO DUNG – BIẾT CHẤP NHẬN VÀ CẢM THÔNG
Một nét đẹp khác trong tính cách người Miệt Giồng là lòng bao dung.
Trong cuộc sống thường ngày, người quê không muốn giữ mãi chuyện hơn thua. Có
khi vì một lời nói mà giận nhau, nhưng rồi gặp lại, người này mở lời trước, người
kia
cũng dễ bỏ qua.
Sống
cùng một xóm, còn gặp nhau lâu dài, giữ mãi chuyện buồn chỉ khiến tình cảm thêm
xa cách.
Bao dung còn là biết cảm thông với hoàn cảnh của người khác.
Ai
cũng có lúc khó khăn, có khi lỡ lời hoặc làm điều chưa phải. Nếu người ấy biết
sửa đổi, người chung quanh thường sẵn lòng cho họ cơ hội.
Trên vùng đất Trà Vinh, người Việt, Khmer và Hoa đã cùng sinh sống qua nhiều thế
hệ.
Mỗi
cộng đồng có phong tục và tín ngưỡng riêng.
Sống
bên nhau lâu ngày, con người học cách tôn trọng những điều khác với mình.
Bao dung vì vậy đôi khi chỉ là biết nhường nhau một lời, bỏ qua một chuyện nhỏ
để
giữ lại điều lớn hơn: tình người.
5.KHÍ TIẾT VÀ NHẨN
NẠI
Người
đàn ông miệt giồng còn được quý trọng ở khí tiết, lòng tự trọng và sự
nhẫn nại. Trong cảnh nghèo khó hay khi gặp nghịch cảnh, họ biết chịu đựng,
không dễ cúi đầu hay buông xuôi. Sự nhẫn nại ấy không phải là yếu đuối, mà là
biết giữ mình, giữ khí tiết, bình tâm chờ lúc thuận lợi để vượt qua khó khăn.
Khi cần, họ dám đứng ra gánh vác, bảo vệ gia đình và giữ lấy nghĩa tình, danh dự
của một đời người.
6. NGHĨA TÌNH TRONG XÓM LÀNG
Ở Miệt Giồng ngày trước, những mái nhà có thể cách nhau một con mương, một bờ
ruộng hay một khoảng vườn, nhưng con người lại sống gần nhau bằng sự quan tâm
và
gắn bó.
Hàng xóm không chỉ là người ở cạnh nhà.
Qua
năm tháng, nhiều gia đình thân thiết đến mức xem nhau như bà con. Ai đau yếu, gặp
khó khăn hay nhà có chuyện, người
chung quanh thường sang thăm hỏi và giúp đỡ trong khả năng của mình.
Khi gia đình có việc lớn, tình nghĩa ấy càng rõ.
Đám
cưới có người phụ bếp, dựng rạp, sắp bàn ghế.
Nhà
có tang, bà con đến chia buồn và giúp những việc cần thiết.
Khi
dựng nhà hay gặp việc nặng, mỗi người góp một tay.
Giỗ quảy kỵ cơm, người tới dự mang theo chai rượu, câp gà, cập vịt…không mới họ
nhớ cũng tự đến, chủ nhà tiếp đón vui vẻ, có khi thấy người quen đi ngang thì
ơi ới gọi
vào, kêu con cái người nhà mang thêm chén, đủa.
Tình
làng nghĩa xóm còn nằm trong những điều rất bình thường: gặp nhau ngoài ngõ thì
hỏi thăm, lâu không thấy một người quen thì hỏi xem có đau yếu gì không.
Người
lớn để mắt đến trẻ nhỏ trong xóm,
Con
cháu biết kính trọng những người cao tuổi.
Những điều giản dị ấy đã làm nên cái tình của làng quê Miệt Giồng.
CÔNG VIỆC ĐỒNG ÁNG – MỒ HÔI LÀM NÊN HẠT GẠO QUÊ NHÀ
Nếu
nói về đời sống Miệt Giồng mà không nói đến công việc đồng áng thì sẽ thiếu đi
một phần quan trọng của câu chuyện quê hương.
TỪ
MẢNH ĐẤT ĐẾN HẠT GẠO
Một
hạt gạo đến được mâm cơm phải trải qua rất nhiều công đoạn.
Làm đất
Ngày
trước, việc làm đất phần lớn dựa vào sức người và sức kéo của trâu bò. Ruộng được
cày, bừa rồi san lại để chuẩn bị cho việc gieo trồng. Những ngày làm đất rất vất
vả. Bùn bám đầy chân, quần áo lấm lem, mồ hôi hòa với nước ruộng. Người nông
dân hiểu rằng đất có được chuẩn bị tốt thì cây lúa mới có thể phát triển.
Con trâu trong đời
sống nhà nông
Ngày
xưa, con trâu là người bạn quen thuộc của người làm ruộng. Trâu kéo cày, kéo bừa
và đảm nhận nhiều công việc nặng. Sáng sớm, người chủ dắt trâu ra đồng; chiều lại
đưa về chuồng. Trẻ con quê từ nhỏ đã quen với hình ảnh con trâu trên bờ ruộng.
Có em theo cha ra đồng, có em nhận việc chăn trâu. Con trâu vì thế không chỉ là
vật nuôi mà từng là một phần của đời sống nông nghiệp.
Gieo hạt và chăm
lúa
Sau
khi đất được chuẩn bị, người nông dân bắt đầu gieo giống. Hạt lúa được gieo xuống
rồi phải chờ đợi và chăm sóc. Người làm ruộng giữ nước, làm cỏ, theo dõi sâu bệnh
và nhìn từng thay đổi của cây lúa. Ngày qua ngày, ruộng lúa chuyển màu xanh.
Lúa lớn dần, trổ bông rồi bắt đầu chắc hạt. Khi cả cánh đồng chuyển sang màu
vàng, mùa gặt đã đến. Nhìn cánh đồng lúa chín, người làm ruộng vừa vui vừa lo.
Vui vì công sức nhiều tháng sắp có kết quả; lo vì một trận mưa lớn, sâu bệnh
hay thời tiết bất thường cũng có thể ảnh hưởng đến cả mùa vụ.
Mùa gặt
Mùa
gặt là một trong những thời điểm bận rộn nhất của làng quê. Người lớn ra đồng từ
sớm. Lúa được cắt, gom và đưa về nơi tập kết. Không khí mùa gặt tuy nhọc nhằn
nhưng cũng có niềm vui riêng. Giữa đồng ruộng thường vang lên tiếng gọi nhau,
tiếng trò chuyện và đôi khi cả tiếng cười. Sau mùa gặt, lúa được phơi, bảo quản
rồi xay thành gạo. Từ đó mới có hạt cơm trên mâm. Người từng làm ruộng hiểu rằng
mỗi hạt cơm đã đi qua biết bao công sức. Bởi vậy, người quê ngày trước rất quý
hạt gạo và ít khi để cơm thừa phí phạm.
KHÔNG
CHỈ CÓ CÂY LÚA CÒN CÓ NHỮNG HOA MÀU PHỤ
Đời
sống nông nghiệp Miệt Giồng không chỉ có ruộng lúa. Sau mùa lúa, một số ruộng
được tận dụng để trồng các loại hoa màu khác, những loại cây thích hợp theo từng
vùng. Người dân trồng rau, bắp, khoai, đậu và nhiều loại khác. Trong vườn nhà
có thể có dừa, chuối, xoài, mít, mận, cau cùng nhiều loại cây ăn trái khác.
Sản
vật làm ra trước hết phục vụ gia đình; phần dư có thể đem ra chợ bán để có thêm
thu nhập. Ruộng và vườn bổ sung cho nhau, cho thấy cách người dân ngày trước biết
tận dụng đất đai và những gì thiên nhiên ban tặng.
KHI
MẤT MÙA
Không
phải năm nào trời đất cũng thuận lợi. Có năm sâu bệnh, có năm hạn hán, mưa lớn
hay nước dâng. Một mùa thất bát có thể làm cho cuộc sống của cả gia đình trở nên
khó khăn. Nhưng sau một mùa không thuận lợi, người nông dân vẫn sửa soạn cho
mùa kế tiếp. Họ giữ giống, chuẩn bị đất và lại bắt đầu. Đó là sức bền của những
con người sống bằng nghề nông: có thể mất một mùa, nhưng không dễ mất niềm tin
vào đất.
LỜI
KẾT
Đời
sống cư dân Miệt Giồng được tạo nên từ nhiều lớp người, nhiều cách sống và nhiều
thế hệ nối tiếp nhau. Qua năm tháng, đời sống ấy cũng hun đúc nên những phẩm chất
đáng quý: chân chất, thật thà, cần cù, hào sảng, bao dung và nghĩa tình. Nhà cửa
có thể đổi thay, đường sá có thể rộng hơn, cách làm ruộng cũng không còn như
trước. Nhưng những gì con người đã tạo dựng và truyền lại qua nhiều thế hệ vẫn
còn đó. Đất tạo nên nơi chốn. Sông nước nuôi dưỡng cuộc sống. Và con người làm
nên linh hồn của Miệt Giồng
No comments:
Post a Comment