Friday, August 28, 2026

NHÚM TÓC CÒN LẠI CỦA MÁ

 

NHÚM TÓC CÒN LẠI CỦA MÁ

(Kính dâng hương hồn má). Má tôi, người mẹ miền đất giồng. Tôi nói như vậy là vì vùng đất nơi má được sinh ra, lớn lên cho đến khi có chồng con và đến cuối đời vẫn ở đây: “Miền đất giồng”. Gọi là miền đất giồng vì vùng đất ở đây là vùng ven biển. Qua sự bồi đắp của nhiều năm tháng, những con giồng hình cong như lưỡi sóng, cộng với sự lắng đọng của dòng Cửu Long từ vùng sâu chảy về, gặp sức dội của áp lực Biển Đông bẻ ngoặt, chia nhánh chằng chịt khắp một vùng rộng mênh mông. Năm học lớp nhì hai năm, má tôi vâng lời ông bà ngoại lấy ba tôi lúc tóc còn để kẹp. Má dùng dằng một mình mà không dám cãi ý Cậu. Má gọi ông ngoại bằng Cậu, trong gia đình ít ai chú ý tới. Thường khi dân miền Nam chánh cống thì gọi ba, má. Chỉ người vùng ngoài Bắc mới gọi là Cậu. Trong các dịp Thanh Minh về quê ngoại tảo mộ, tôi thấy bộ bia ông ngoại ghi họ Trịnh. Tôi có thắc mắc và hỏi má: “Má ơi! Má họ Trần, sao mộ bia ông ngoại lại họ Trịnh?”. Má nói má cũng không biết, chỉ làm theo lời trăng trối ông ngoại muốn như vậy. Sau nầy khi học qua lịch sử Việt thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Chúa Trịnh hùng cứ phương Bắc. Chúa Nguyễn thua Chúa Trịnh chạy dần về phương Nam. Tôi đoán chắc ông bà tổ tiên bên ngoại trước đây họ Trịnh ở tận ngoài Bắc, vì sợ Chúa Nguyễn trả thù nên đổi lại họ Trần. Luận cứ nầy rất phù hợp với lịch sử và lời trăng trối của ông ngoại. Tôi đoan chắc là đúng, mặc dù má nói là không biết. Ông ngoại ít nói nhưng cả quyết. Khi được dượng Hai, chồng của dì Hai, chị ruột của má, giới thiệu gia đình ông bà nội là người khách trú làm ăn buôn bán ở làng Long Hiệp, Quận Trà Cú, muốn xin cưới má cho người con lớn trong gia đình, ông ngoại nói: “Được!”. Ít tháng sau là đám hỏi và năm sau đó làm đám cưới. Cuộc hôn phối của ba má rất thuận thảo và mau chóng. Ông bà ngoại sống bằng nghề làm rẫy. Miếng đất giồng hơn ba công và thêm mảnh ruộng bốn công nằm kề. Miếng đất rẫy là một vùng đất pha cát màu hơi sậm, nhưng vì cát nhiều nên việc tiêu tưới rất cực nhọc. Miếng ruộng thì chỉ làm được một mùa. Mùa khô nứt nẻ, mùa mưa nước sấp lún tới gối. Đời sống vất vả quanh năm mà chỉ đủ ăn, không dư giả. Ông ngoại muốn gả má về chợ buôn bán cho đỡ cực hơn. Trước ngày đám cưới, bà ngoại dạy má nấu vài món ăn thường nhật đơn giản như kho cá, nấu canh. Ngoại nói: “Gia đình người Tàu Lai người ta không khó đâu nhưng ít nhứt phải biết nấu vài món ăn”. Năm ấy má tròn 18, về sống với ba ở Long Hiệp. Làng nầy cách xa nhà ông bà ngoại một con giồng lớn. Nếu đi tắt xuyên qua những đám rẫy, một cánh đồng thì đến con giồng mang tên Xã Thủy Hòa, còn được gọi là Ấp Nô Kông. Nếu đi đường xe đò thì đánh một vòng hơi xa. Thời đó xe đạp còn hiếm, đi bộ thì quá lâu mặc dù đường ngắn, nên nếu có dịp về nhà ngoại thì má dùng xe đò đi từ Long Hiệp lên Trà Vinh và từ Trà Vinh qua chợ Quận Cầu Ngang đến Xã Thủy Hòa.

Ngày sinh ra tôi, ông nội không cho má làm gì cả. Ông nội mới có đứa cháu đích tôn
nên muốn má chỉ lo giữ tôi cho chu toàn. Ông nội có một đời vợ ở bên Tàu. Những
năm miền đất ông nội sống ở bên Tàu đói rách, ông một mình quảy gánh tìm đất sống
về phía Việt Nam. Cuộc trôi dạt theo các thương thuyền người Hoa của ông đã tấp vào
bờ biển phía Nam và định cư tại đây. Ông có một đời vợ bên Tàu nhưng chưa có con.
Ông nội không thố lộ việc nầy cho đến khi bà nội sinh chú Năm, em trai kế của ba, thì
bà nội bên Tàu tìm đường liên lạc được với ông nội. Bà nội trước có ý xin chú Năm
đem về Quảng Đông nuôi. Bà nội đẻ chú Năm không chịu. Bà nội trước trở về Trung
Quốc và bặt tin luôn cho tới cuối đời ông nội.
Lúc còn non trẻ, ông nội đu đưa tôi trên tay suốt ngày. Ba tôi gánh vác hết việc mua
bán cái tiệm chạp phô nhỏ ở xóm Chùa, cách Xã Long Hiệp chừng một cây số. Má chỉ
lo dọn dẹp nhà cửa và nấu nướng những bữa cơm cho gia đình. Bà nội cũng hiền lành,
cho nên cuộc đời làm dâu của má không mấy vất vả. Khi có tôi thì má được ông bà nội
thương nhiều hơn. Tôi thường được má ôm vào lòng, ngồi trên chiếc võng đan bằng vỏ
cây bố đu đưa. Má đọc như hát bài thơ bằng Pháp ngữ “Voici ma main” mà má học lúc
còn nhỏ, đôi lúc là những câu ca dao ngọt ngào trầm bổng: “Má ơi! Đừng gả con xa,
chim kêu vượn hú biết nhà má đâu” hoặc “Cây khô tưới nước cũng khô, vận nghèo đi
tới xứ mô cũng nghèo”. Ông nội thì hát tiếng Tiều Châu và dạy tôi bập bẹ “khìa cai úa
chìa pừng” (lấy đôi đũa ăn cơm)…Má thường gội đầu bằng nước tro. Má dùng tro nhà bếp, bỏ vào thau nước ngâm một hồi lâu, chắt nước trong vào cái tô to. Má xõa búi tóc, khom lưng cúi gập người về phía trước cho tóc rủ hết xuống, một tay cầm cái tô nước trong màu hơi sẫm đổ từ từ vào đỉnh đầu. Má dùng tay còn lại vò từ đỉnh đầu xuống dòng tóc. Sau khi đổ hết tô nước, má dùng cả hai tay vò chùm tóc cho ráo nước. Cuối cùng má với tay cầm cái cán chiếc gáo múc nước, múc từng gáo xối từ đỉnh đầu để rửa sạch nước tro gội. Sau nhiều lần xoa rửa và vuốt nước, má dùng cái khăn rằn tiếp tục vuốt cho dòng tóc tạm ráo.
Sau cùng má đứng thẳng người lên, hất mớ tóc ra phía sau. Nước còn đọng trong tóc
làm ướt cả lưng áo. Nắng buổi trưa hâm hấp nóng. Má bước vào mái hiên ngồi trên
chiếc ghế đẩu. Má tiếp tục nghiêng đầu hong nắng cho khô tóc và dùng chiếc lược làm
bằng sừng trâu chải cho tóc suông. Thường khi như vậy tóc bị tẻ hoặc bị đứt ra dính
vào kẽ lược. Má dùng hai ngón tay kẹp vuốt ra mớ tóc rời và quấn lại từng chụm nhỏ.
Trong căn nhà vách lá tôi thường thấy vài nơi có vài chụm tóc được má nhét vào kẽ
vách. Đôi khi vì bận rộn má quấn vội mớ tóc, trùm chiếc khăn rằn quấn túm lại và tất
bật với công việc nhà. Sau nầy có khi má dùng trái bồ kết nấu trong nồi nước cho sôi,
để nguội, gạn nước trong để gội đầu. Suốt một thời tuổi nhỏ gần má, tôi quen mùi với
mái tóc má như một cái gì thân thiết lắm. Sau nầy gia đình khá giả và sản phẩm xà
bông gội được phổ biến. Má không còn gội đầu với nước tro hoặc trái bồ kết thường
như trước đây nhưng đôi lúc má lại gội đầu theo lối cũ. Má nói: “Gội bằng nước tro,
hoặc trái bồ kết sạch hơn và không bị ngứa”. Cho dù thế nào, tôi vẫn thoảng nhớ mùi
hương từ mái tóc má mỗi lần có dịp ngồi gần má.

Năm tháng dài trôi qua, từng đứa con ra đời. Than lửa hong từng đứa. Mái tóc má thưa dần qua chín đứa con. Má cùng ba cơ cực trong cửa tiệm bán vải. Mái tóc má thưa dần. Má dùng mớ tóc mượn để búi thêm vào tóc. Anh em chúng tôi lớn dần. Cho tới đứa em gái út của tôi vào trường học thì mớ tóc má tôi bạc đi nhiều cọng. Chiếc tủ quần áo đặt kế khung giường ngủ của ba má ngày nào. Tôi mở cánh cửa nhìn vào. Một số quần áo cũ còn đó, mùi hương cũ phảng phất thoát ra. Tôi nhắm mắt mơ màng da diết nhớ thương những ngày tháng đã qua! Kéo một ngăn kéo nhỏ trong tủ áo, tôi bắt gặp một gói vải mà lớp vải bao đã vàng ố. Đây là chiếc khăn tay của má gói một số giấy tờ căn cước, vài manh giấy ghi kinh Phật. Giữa hai thẻ quy y của ba má có lẫn một nhúm tóc bạc. Tôi nhớ có lần má nói với tôi là sẽ xuống tóc xuất gia. Tôi xin má: “Má ơi! Con biết tính má rất lo lắng cho gia đình, má chưa dứt được mọi chuyện đời, xin má đừng xuất gia vội!” Có lẽ má nghĩ lại và bỏ ý định xuống tóc xuất gia. Má để nhúm tóc nầy như một lời nguyền xuống tóc? Má tụng niệm kinh kệ hằng ngày, trường chay từ khi bà ngoại mất. Lúc đó má chỉ mới chừng hơn 45 tuổi. Má sẵn sàng giúp đỡ, phát chẩn cho người nghèo. Mỗi mùa Lễ Vu Lan má mua từng bao bố gạo để trước nhà phát cho các gia đình nghèo khó. Ở chùa thì má chi trả cho mọi chi phí chay đàn cho bá tánh thập phương đến chùa. Má sống rất đơn giản. Mớ quần áo của má trong chiếc giỏ mà đi đâu má cũng mang theo cứ lấy dần ra cho những người thiếu thốn. Ngày má mất, ba soạn cái giỏ đồ của má ra chỉ còn lại một bộ đồ duy nhất. Ba lắc đầu: “Má con có nhiều đồ, bả cho hết... bây giờ chỉ còn có một bộ!”. Trước đây tôi cũng không để ý. Mỗi lần má tắm xong thay đồ sạch thì má đem giặt ngay bộ đồ dơ. Bây giờ nghe ba nói tôi mới vỡ lẽ! Tôi bốc ra những sợi tóc bạc ngày xưa của má để lên bàn tay. Tôi đưa bàn tay với nhúm tóc lên mũi. Tôi nhắm nghiền đôi mắt. Mùi hương thoảng nhẹ mơ hồ trong ảo giác. Tôi khóc òa lên như một đứa trẻ trong căn nhà cũ quạnh vắng buồn hiu!

No comments:

Post a Comment

VÂN MINH MIỆT GIỒNG NAM BỘ