PHẦN KÝ ỨC CỦA
TÔI
Quê
ngoại của tôi ở quận Cầu Ngang, làng Thũy Hòa và người còn gọi là ấp Nô Kông,
quê nội ở quận Trà Cú, làng Long Hiệp, mà bà con địa phương thường gọi là Trà Sất.
Trà Vinh là vùng đất nằm giữa hệ thống sông ngòi của đồng bằng sông Cửu Long và
mở ra tận biển. Càng về phía Cầu Ngang, Duyên Hải, đất càng mang nhiều dấu vết
của
vùng ven biển với giồng cát, bãi bồi, cồn và những vùng đất mới.
Ở đây có những vùng cát như Đổng Cao, Ba Động; xa hơn về phía biển có những
vùng
cồn như Cồn Ngao, Cồn Lợi, Cồn Cù...
Những địa danh ấy đối với người ngoài có thể chỉ là những cái tên trên bản đồ.
Nhưng đối với người quê tôi, mỗi cái tên là một phần ký ức.
Là một con đường.
Một bến nước.
Một mùa cá.
Một mùa muối.
Một mái nhà.
Một tuổi thơ đã đi qua.
ĐẤT CỒN
Một thuở bên trời mang gấm vóc
Chân lúa quê hương thấm nước nguồn
Mẹ hát ca dao miền châu thổ
Con lớn ngọt bùi nước phù sa
Đồng ruộng phăng diều căng cánh gió
Gốc cỏ nối liền cuối chân mây
Đường dây tuôn chỉ cao vời vợi
Nghĩa nước tình sông cũng sum vầy
Nước mặn đồng chua miền lưu xứ
Mảnh đất cheo leo giữa nước trời
Hồn nở năm vành sao muối trắng
Gió ướp thịt da đã mặn mòi
Cây đước, cây bần chân giữ đất
Kinh một, kinh hai rẽ mấy dòng
Cha đi ghe mướn qua thành phố
Chở muối đồng quê đổi lấy tiền
Con học nhấp nhhem vần quốc ngữ
Mẹ vẽ I, T trên lá xanh
Lá chuối sắp trên vùng cát mịn
Lằn chữ in sâu tiếng vỡ lòng
Phênh sóng lá khô đan làm vạt
Chiếu lát mùng thô ấm giấc dài
Manh nóp đường xa cha cơ cực
Mẹ hát ngọt bùi
con ngủ say
Sương khuya giọt
vắn giọt dài
Đất cồn sóng vỗ
đêm ngày thở than
Trùng trùng cát
đổ sương tan
Lúa mọc lan tràn
cây trái xanh tươi
Cố xưa bây giờ
mây gió loạn
Cây trái về đâu
đất tan tành
Mái lá sườn cây
buồn nghiêng ngả
Người giạt
phương nào lối cỏ hoang?
Cồn Cù ơi! xa rồi
năm tháng
Giặc nước – tình
sông đã nghẹn ngào
Sóng bổ Cồn xưa
còn vọng mãi
Có tiếng quê
hương tuổi ấu thời
Ta đứng bên trời
nghe xa xót
Một thuở phù sa
đẹp dấu người
Trên đất khai
sinh hồn phấn đấu
Giờ đứng nơi nầy
thương nhớ mong.
(Đất Cồn)
NHỮNG
CON LÁNG CỦA QUÊ HƯƠNG Những địa danh như Láng Thé, Láng Sắc, Láng Chim, Láng
Cò... nối dài qua nhiều vùng quê. Ăn liền về phía Trà Cú còn có Láng Đôn Xuân.
Những cái tên ấy nghe qua tưởng như bình thường, nhưng với người miền quê,
chúng gợi lên cả một không gian sống. Đó là những con đường đất, những bờ ruộng,
những dòng kinh, những hàng bần ven nước, những buổi trưa nắng cháy và những chiều
gió chướng thổi về. Nhạc sĩ Trúc Phương từng có một thời gian sống ở Ngã Ba, quận
Trà Cú. Trong ca khúc “Trà Cú Trong Tình Thương Mật Ngọt”, ông đã đưa những địa
danh rất quen thuộc của quê Trà Cú vào lời ca: “Anh lại theo em dzìa Láng Đôn
Xuân...” NHỮNG NĂM THÁNG CHIẾN TRANH TRONG ĐÒI
Lúc
tôi sắp lên ba tuổi thì ông nội qua đời vì một vết cạo gió làm trầy cái mụt ruồi
lớn sau lưng, rồi vết thương bị nhiễm trùng, mưng mủ. Ông mất chưa được bao lâu
thì giặc giã nổi lên khắp xóm làng. Đêm đêm, tôi nghe tiếng mõ cùm cum, tiếng
chân người thình thịch, tiếng chó sủa từ xóm này qua xóm khác. Người ta đồn Việt
Minh về rất đông, đi hoài không ngớt. Bọn lính Mã Tà thường rút vào đồn khi trời
vừa chạng vạng tối, không dám ra ngoài. Trong xóm lại lan truyền đủ thứ chuyện
ma quỷ. Người ta đồn về con ma vú dài thường xuất hiện ở cây Da, rồi chuyện ma
rút ruột người xuất hiện đêm đêm khắp nơi. Ai gặp nó sẽ bị nó rút ruột. Người
trong xóm Bến Chùa ai nấy đều lo sợ. Trời tối không ai dám ra ngoài, cửa nẻo
nhà nào cũng gài song thật chặt. Nhà nào cũng treo nhánh xương rồng có quét vôi
để ếm trừ ma quỷ. Trẻ con được đeo tỏi để trừ bệnh dịch tả và quỷ ám. Mãi sau
này, khi lớn lên, tôi mới hiểu rằng nhiều chuyện ma quỷ ấy có thể đã được lợi dụng
để làm cho người dân sợ đường ban đêm. Người đi không đông, chỉ độ ba bốn người
chia nhau đi vòng quanh xóm. Người đi đầu này, kẻ đi đầu kia, vừa đi vừa gõ mõ
cùm cum. Tiếng chó nghe động lại sủa vang từ xóm này sang xóm khác. Vì sợ ma
nên nhà nào cũng đóng cửa im ỉm, chẳng ai dám bước ra xem. Những nơi hơi hoang
vắng, nhất là dưới những cây Da to cao, tàn lá che khuất bóng tối, thường trở
thành nơi thuận tiện để cán bộ cách mạnghội họp. Người dân sợ ma nên ban đêm chẳng
ai dám đi ngang qua đó. Thời ấy, trong thôn xóm chưa có nhà vệ sinh. Người ta
thường đi đồng hoặc đào những hố nhỏ, đặt cái hũ sành không đáy ở một góc vắng
nào đó trong xóm hay trong những lùm cây. Chung quanh chuyện đi đồng lại sinh
ra thêm những lời đồn về ma rút ruột. Chiến tranh lúc ấy không chỉ là chuyện
súng đạn mà còn len vào từng mái nhà bằngg câu chuyện truyền miệng, những nỗi sợ
hãi và những đêm tối đầy bất an. Vào thời “MùaThu rồi… ngày hăm ba ta đi theo
tiếng sơn hà nguy biến…”, đa số người Việt lúc bấy giờ vì lòng yêu nước, muốn
đánh đuổi ngoại xâm nên đã đi theo phong trào Việt Minh.Người ta vác tầm vông vạt
nhọn, “nóp với giáo mang ngang vai” đi đánh Tây. Trong số những người đi theo
phong trào Việt Minh có cả những người từng làm việc cho chính quyền địa
phương. Dượng Ba, chồng người cô thứ ba của tôi, trước đó từng làm việc cho
chính quyền sở tại. Không biết ông đi theo phong trào Việt Minh từ lúc nào.
Khi tôi còn nhỏ, tôi chỉ thấy cô Ba sống một mình với ba người con. Tôi chưa
bao giờ
gặp mặt dượng và cũng chẳng ai nói cho tôi biết vì sao ông không có mặt trong
gia
đình. Mãi đến gần cuối năm 1953, khi gia đình tôi đã hồi cư từ Cồn Cù về sống tại
Ngã
Ba quận Trà Cú được vài năm, tôi mới biết câu chuyện về dượng Ba. Một hôm, cô
Ba
hớt hải nói gì đó với ba tôi rồi vội vã ra đi. Sau này tôi mới biết cô đi tìm
xác dượng.
Người ta kể rằng dượng làm công an xã Long Hiệp, bị thương trong lúc đi thị sát
một
vùng ven thuộc xã Trà Kha. Một người lính làng người Khmer đã nhắm bắn dượng từ
khá xa, làm dượng ngã quỵ giữa đồng. Người lính ấy sau đó cứ nghĩ mình đã bắn lầm
một người dân nên vào chùa xin tội với Lục Cả. Vị Lục Cả chùa Trà-Tro cho người
đi
tìm và tìm được xác dượng nằm trong một đống rơm phủ kín giữa cánh đồng. Có lẽ
lúc
bị thương nặng và không thể di chuyển, dượng đã cố phủ rơm lên người để không bị
phát hiện. Chùa xin phép chính quyền quận đem xác dượng về chùa làm lễ hỏa
thiêu.
Tro bụi được đổ chung trong một ngôi tháp của chùa. Vì tro cốt bị trộn lẫn nên
cô Ba
không thể đem về chôn cất riêng được. Sau này người ta còn nói vị Lục Cả ấy
cũng có
hoạt động cho phong trào Việt Minh. Đó là một thời kỳ mà ranh giới giữa người với
người trở nên vô cùng mong manh. Có người Khmer đi theo phong trào Việt Minh,
cũng có người Khmer bị lôi kéo theo phía đối nghịch. Có những nhóm người xấu bị
xúi giục đi tìm giết người Việt. Những cuộc cướp bóc, giết chóc xảy ra rất dã
man. Ba
tôi và chú Năm của tôi cũng từng bị bắt. Họ bị cột tay đưa ra đồng định giết.
May mắn
có người báo tin kịp thời. Ông Củ tôi có người con thứ ba xuất gia tu lục ở một
ngôi
chùa Khmer tại ấp Bến Chùa. Chúng tôi gọi chú là chú Ba Lục Sinh. Chú trình
thưa
với vị Lục Cả. Nhờ vị Lục Cả can thiệp nên ba tôi và chú Năm được tha. Nhưng đồng
thời
cũng diễn ra những cuộc trả thù. Người ta bắt những người Khmer bị xem là theo
phía đối nghịch và những người theo lính Tây. Có người bị giết, đầu bị chặt rồi
thả trôi
trên sông. Một thời kỳ tang tóc, khiếp đảm bao trùm khắp thôn xóm.
VÌ SAO GIA ĐÌNH TÔI PHẢI TẢN CƯ VỀ CỒN CÙ
Trong cơn hỗn loạn ấy, toàn gia đình ông bà nội tôi chạy tán lạc. Mạnh ai nấy cố
tìm
đường thoát khỏi những vùng có nhiều giao tranh. Hai chú tôi định cư tại quận
Long
Toàn, còn ba má tôi thì chèo chống xuống tận Cồn Cù. Ba tôi hồi nhỏ từng học với
một thầy giáo ở trường làng Long Hiệp. Về sau, vị thầy ấy khuyên ba nên đưa gia
đình
về một vùng tự do để được an toàn hơn. “Vùng tự do” theo cách nói lúc bấy giờ
là
vùng Việt Minh kiểm soát. Quận Trà Cú nói chung và cả vùng Cầu Ngang lúc ấy có
nhiều người Khmer, tình hình lại phức tạp. Thầy khuyên ba tôi nên đi xa hơn cho
vững
dạ. Thế là gia đình tôi quyết định rời quê. Chúng tôi chèo xuồng tản cư về Cồn
Cù. Từ
mé rạch, chúng tôi lên bờ, bương qua rừng, đi sâu vào bên trong, đến nơi có nhiều
cư
dân đã sống quần tụ từ lâu và cất nhà ở tạm. Đó là lần đầu tiên gia đình tôi bước
vào
một vùng đất hoàn toàn khác với quê nhà.
Cồn Cù lúc ấy còn rất hoang sơ. Đây là một vùng đất bồi nằm về phía Đông Nam của
vùng Duyên Hải – Long Toàn. Cư dân thưa thớt. Phần lớn sống bằng nghề làm muối.
Đất ruộng không nhiều, phần lớn là những khu rừng đước, rừng chà là, rừng mắm, ô
rô, cốc kèn… Ba má tôi đến một vùng đất mới mà chưa biết phải làm gì để sinh sống.
Sẵn có một ít vốn liếng mang theo, má mua chuối ra chợ chiên bột bán. Ba thuê
ghe
chở muối từ Cồn Cù ra Long Toàn, Cầu Ngang, có khi ra tận tỉnh Trà Vinh để bán.
Chuyến về ba mua thêm một số đồ tạp hóa đem về bán lẻ tại nhà. Nhưng chuyện đi
ghe càng lúc càng khó khăn và nguy hiểm nên ba chỉ đi được vài chuyến rồi
ngưng.
Sau đó ba mua chuối của những gia đình trong vùng đem về dựa bán lẻ cho những
người ngồi chợ, rồi bán thêm chén bát và những vật dụng dùng trong gia đình. Vốn
là
người có máu buôn bán từ nhỏ, ba tôi xoay sở rất khéo. Nhờ vậy đời sống gia
đình
cũng dần tạm ổn.
NHỮNG NĂM THÁNG CỦA TÔI Ở CỒN CÙ
Hơn một năm, đời sống ở Cồn Cù có những lúc êm ả trôi qua.
Tôi có những ngày đi ra ruộng muối, đem những chiếc lồng tre đan thành hình
ngôi
sao năm cánh bỏ vào ruộng. Vài tháng sau, dưới cái nắng gay gắt, nước bốc hơi,
ruộng
muối trồi lên những vạt muối trắng lấp lánh. Chiếc lồng tre cũng đóng theo vành
thành
một ngôi sao muối trắng ngần. Tôi cùng các bạn nhỏ mang những ngôi sao muối ấy
về
treo trước mái nhà. Tôi cũng có những ngày cùng đứa em kế và các bạn nhỏ đi đắp
chặn những đường nước nhỏ để bắt cá. Cá tôm ở đây đầy ắp trong những khoảng nước
bị chặn. Chúng tôi tát cạn rồi bắt cá bỏ vào giỏ tre mang về nhà. Thiên nhiên Cồn
Cù
cứ thế hòa vào tuổi thơ tôi bằng những ngày mưa, ngày nắng, bằng vị mặn của muối,
mùi bùn của đất và tiếng sóng ngoài cồn. Có những đêm bộ đội Việt Minh về dựng
rạp
hát. Có nhạc cải cách, có kịch vui và có cả nhảy lửa Sôn Đố Mì. Một đêm nọ, ba
tôi
gặp
lại người thầy cũ trong đoàn văn công kháng chiến. Ông thầy lúc này đã ốm và
gầy hơn trước. Sau buổi trình diễn, ba mời thầy về nhà. Hai người ngồi uống trà
và nói
chuyện thời sự cho đến khuya. Trong giấc ngủ mơ màng, tôi nghe tiếng ông nói:
“Lúc
này, sau khi Pháp thua Nhựt một thời gian, bây giờ Nhựt đầu hàng Đồng Minh. Bọn
Pháp trở lại Đông Dương, nên tình hình sắp tới rất khó khăn…” Ba tôi là người
buôn
bán nên chỉ ừ hử cho qua chuyện. Còn tôi thì thiếp đi lúc nào không hay. Khi trở
giấc,
trời đã sáng choang. Má đã ra chợ, ba mở cửa bán hàng. Tôi còn nằm nán lại nghe
tiếng người nói cười trước nhà và tiếng sóng bổ cồn ầm ì xa xa. Năm 1948, má
sinh
thêm một đứa em trai. Ba xây một cái hầm trú ẩn nửa nổi, nửa chìm để tránh
pháo. Lúc
ấy, cà nông từ quận Long Toàn bắn về Cồn Cù ầm ì mỗi đêm. Mỗi lần nghe tiếng
pháo, cả nhà lại chui xuống hầm. Tôi nghe má niệm Phật đều đều:
“Nam mô cứu khổ, cứu nạn…”
Ít lâu sau, ngày ngày lại nghe tiếng máy bay đầm già ù ù phía ngoài vàm kinh.
Hôm
sau, máy bay khu trục bay vòng vòng rồi trút bom ầm ầm xuống khu vực nhà chợ và
rải rác khắp nơi trên đất cồn. Xóm Cồn nhốn nháo. Người ta đào thêm những hầm
trú
máy bay khắp nơi. Đời sống êm ả đã qua. Ba má ngồi nhìn mấy anh em chúng tôi rồi
than thở:
— Chắc phải lo chạy… chớ cái kiểu này không xong rồi.
— Má nói với ba.
— Thì ông tính đi, chớ… tui lo lắm… mấy đứa con còn nhỏ.
Anh em chúng tôi lúc ấy vẫn còn vô tư chơi đùa. Đứa em nhỏ nằm bú tay chóp chép
trên chiếc võng đưa. Khi đứa em nhỏ được một tuổi thì máy bay đến trút bom gần
như
mỗi ngày. Má thôi ra chợ chiên bánh, ở nhà lo chăm sóc chúng tôi và lo cơm nước.
Thằng em nhỏ biết làm dấu máy bay ù ù khi chui từ hầm núp lên. Có hôm tôi và đứa
em kế đi đào hang bắt dế ở phía sau nhà, hơi xa một chút. Máy bay ù ù tới. Biết
chạy
không kịp về nhà, tôi kéo thằng em nhào xuống một cái hố trống lộ thiên. Tôi nằm
che
cho em, lén nhìn lên trời thấy chiếc máy bay khu trục lượn qua lượn lại. Những
trái
bom từ trên không rơi xuống, tưởng như ngay chỗ chúng tôi.
Tôi úp mặt vào lưng đứa em và bắt chước má niệm:
“Nam mô…”
Bom rơi đâu đó, nổ ầm. Anh em tôi bị sức ép làm rung tưng tức nơi lồng ngực.
Sau một hồi quần thảo, chiếc máy bay bay đi.
Ba má tôi hớt hải chạy tìm:
— Tụi con đâu rồi?
Chúng tôi hoàn hồn ngoi lên:
— Ba má ơi! Tụi con ở đây!
Những ám ảnh khiếp đảm trong những ngày tháng đó đã hằn sâu vào tâm hồn non dại
của anh em tôi. Có lẽ phải rất lâu sau những vết thương ấy mới nguôi đi.
Rồi chiến tranh càng lúc càng đến gần hơn. Máy bay đầm già quần trên bầu trời
nhiều hơn. Cà nông từ Long Toàn lại nã ầm ì xuống đất cồn. Một thời gian sau,
lính Tây đổ bộ từ Long Toàn bằng tàu sắt vào Cồn Cù. Ba má cùng đoàn người chạy
sâu vào rừng đước. Du kích bắn trả lính Tây, cà nông nổ ầm ì phía sau đoàn người
đang hớt hải chạy vào rừng. Trong trận càn ấy, chúng đốt hết các căn nhà trong
xóm chợ. Ngày hôm sau, gia đình tôi cùng đoàn người quay về. Khu chợ và xóm nhà
chung quanh đã cháy rụi, khói còn ngun ngút. Nhiều người kêu trời, kêu đất. May
mắn nhà chúng tôi ở xa chợ nên không bị bom đạn phá hủy. Nhưng những dựa chuối
trong nhà bị tung tóe hỗn mang. Phía sau nhà có vài đống phân của lính Maroc
phóng uế, hôi tanh nồng nặc, bên cạnh còn có mấy cái bánh biscuit ăn dở dang.
Thằng em tôi định bốc lấy một mảnh bánh.
Má
vội ngăn lại:
— Dơ lắm, đừng đụng vào!
Đó
là lần đầu tiên trong đời anh em chúng tôi nhìn thấy chiếc bánh Tây. Nhưng chiến
tranh lúc ấy đã trở nên quá gần. Người dân Cồn Cù nhốn nháo, âu lo. Có người
tìm đường về vùng trong. Ba má tôi cũng quyết định phải rời nơi này càng sớm
càng tốt.
RỜI
CỒN CÙ TRỞ VỀ TRÀ CÚ
Ủy
ban Cách mạng xóm Cồn họp dân và ra lệnh không cho ai rời bỏ Cồn mà đi. Ba má
tôi âm thầm tính kế. Ba mua một chiếc xuồng ba lá, đem giấu kín trong một nơi
khuất giữa đám ô rô, chờ thời cơ tìm cách rời khỏi Cồn. Sau khi bán gần hết số
hàng còn lại trong nhà, một đêm tối trời, ba má thu dọn một ít đồ cần thiết, gồng
gánh xuống xuồng. Chiếc xuồng lặng lẽ rời bến. Chúng tôi chèo trong đêm, đi về
hướng Long Toàn. Gần suốt một đêm, ba má phải luồn lách qua những trạm chốt của
dân quân. Cuối cùng, chiếc xuồng ghé vào một nơi gần một ngôi chùa Khmer. Chúng
tôi lên bờ vào chùa xin sư ông cho ở tạm vài ngày và nhờ người nhắn tin cho chú
tôi ở Long Toàn đến đón. Lúc ấy, người từ vùng xa đến nếu không có người quen ở
chợ thường bị mật thám bắt lại để điều tra. Ngày đầu tiên ngủ tại nhà chú, anh
em tôi ngủ say sưa vì suốt đêm trước đã nằm dật dờ trên chiếc xuồng. Sáng sớm,
tôi nghe ngoài khu chợ có nhiều tiếng động rất lạ, giống như tiếng máy bay. Khi
má dắt tôi ra chợ mua đồ ăn, tôi thấy một chiếc xe đậu ở đầu chợ. Người ta ngồi
gần chật kín trong xe. Tôi ngẫm nghĩ: chiếc xe này làm sao chạy được? Chắc phải
hai con trâu mới kéo nổi! Trong lúc còn đang chăm chú nhìn, tôi thấy một người
cầm một cái cây sắt đút vào phía đầu xe. Ông ta quay mấy vòng. Máy xe nổ ồn ào.
Tôi thích thú và ngạc nhiên vô cùng. Thì ra tiếng máy tôi nghe hồi hôm qua, lúc
còn ở trong nhà chú, chính là tiếng máy nổ của chiếc xe đò. Khi chiếc xe lăn
bánh, tôi trố mắt nhìn nó như nhìn một vật gì phi thường. Má kéo tay tôi đi vào
khu chợ. Lần đầu tiên trong đời, khi gần sáu tuổi, tôi mới được nhìn thấy một
chiếc xe đò. Sau đó, chuyện gia đình tôi đi đâu để sống lại trở thành một vấn đề.
Má có người chị ruột ở xã Mỹ Hòa, quận Cầu Ngang, nên má bàn với ba về chợ Cầu Ngang
tìm nhà ở để buôn bán làm ăn. Ba thì có người chị và ông củ Tư, em ruột của bà
nội, ở chợ Ngã Ba quận Trà Cú. Ba muốn về Trà Cú tìm nhà ở. Chuyện chỗ ở cứ
dùng dằng, khiến ba má cãi cọ không ít.Nhưng má tôi lúc nào cũng chiều và nhịn
ba. Cuối cùng gia đình chúng tôi về ấp chợ Ngã Ba. Lúc ấy khoảng giữa năm 1951.
Những ngày đầu chưa có nhà, chúng tôi ở tạm nhà cô Ba tại ấp Xoài Xiêm. Ba liên
lạc với những người quen hồi còn ở Long Hiệp, nay đang sống tại Trà Vinh. Tạm
thời, ba mua thuốc rê về bày ở chợ bán. Má ở nhà phụ làm bánh với cô Ba rồi đem
bán dạo trong sóc. Anh em chúng tôi lại có những ngày chạy chơi quanh ngôi chùa
Khmer, trên những con đường đất quanh chùa. Tiếng trống chùa, tiếng nhạc ngũ âm
chập chùng, tiếng kinh cầu của các vị Lục, tiếng sáo diều du dương…Những âm
thanh ấy dần dần làm đầu óc non nớt của anh em tôi trở lại thư giãn và bình an.
Qua rồi một thời khiếp sợ bom rơi, đạn réo ở xứ Cồn
No comments:
Post a Comment